Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
Đã Phát Hành:

 Phủ Định Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán
 Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi
 Giọt Sương Huyễn Hóa
 Pháp Tu Quán Âm
 Trung Luận
 Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại
 Lược Sử Thời Gian
 Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung
 Bước vào Thiền Cảnh
 Đại Cương Triết Học Trung Quán
 Đại Tạng Kinh Nhập Môn
 Cẩm Nang Nhân Sanh
 Thập Nhị Môn Luận
 Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21
 Con đưòng dẫn đến hạnh phúc đích thực
 Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo

PHẬT GIÁO HƯỚNG DẪN THẾ KỶ 21
Dịch Giả:  Thích Viên Lý



THAM LUẬN VII
PHÁT HUY PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ 21

Hamada Kashin
(Thứ Trưởng Sự Vụ, Hiệp Hội Phật Tử Nhật Bổn Thế Giới)

 


        Trước khi đi sâu vào chi tiết về chủ đề của cuộc Hội Nghị “Phật Giáo Hướng Về Thế Kỷ 21” chúng ta cần quay nhìn lại thế kỷ 20 sắp chấm dứt.

        Thế kỷ 20 là một nhân chứng đáng thương đã phải chứng kiến hai trận thế chiến và những cuộc cách mạng liên tiếp. Trước khi người ta có thể nguôi đi cái kinh nghiệm đau đớn của hai trận thế chiến khốc liệt thì liền xảy ra cuộc Chiến Tranh Lạnh. Trong suốt 50 năm của “chiến tranh lạnh” sự thực là thế giới luôn luôn “nóng,” với những trận chiến tranh: nội chiến ở Trung Hoa, chiến tranh giữa Nam và Bắc Hàn, chiến tranh ở Trung Đông, chiến tranh ở Việt Nam, và chiến tranh ở A Phú Hãn. Tuy không xảy ra chiến tranh trực tiếp giữa Hoa Kỳ và Liên Bang Sô-Viết, nhưng thật ra sự kình chống nhau giữa họ đã hiện diện ở khắp nơi, trong hình thức can thiệp quân sự, hoặc viện trợ quân sự và tài chánh. Ngay cả khi chiến tranh lạnh đã chấm dứt, những trận chiến tranh vì tranh chấp sắc tộc hoặc tôn giáo vẫn còn xảy ra.

        Những cuộc chiến tranh giữa các nước Âu Châu vì tranh giành thuộc địa, kể từ thế kỷ 17, đã kéo dài hơn 350 năm và lên tới cực điểm vào lúc sắp xảy ra Thế Chiến I. Sau đó, quốc gia Hoa Kỳ còn trẻ trung và quốc gia cộngsản đầu tiên, Liên Bang Sô-Viết, đã trở thành hai cường quốc cầm đầu các nước Châu Âu đồng minh với họ. Người ta cho rằng Thế Chiến II là sự đương đầu giữa một phe là Hội Quốc Liên - gồm hai cường quốc nói trên và các đồng minh Âu Châu của họ - và phe Trục gồm các nước Đức, Ý và Nhật, nhưng sự thực nó không phải chỉ là cuộc xung đột giữa chủ nghĩa tự do chống lại chủ nghĩa độc tài, với chiến thắng của chủ nghĩa tự do. Liên Bang Sô Viết là một nước cộng sản độc tài trong Hội Quốc Liên (league of Nations), trong khi đó Đức Quốc Xã trở thành một nước độc tài sau khi Cộng Hòa Weimar của Đức đã có một thể chế dân chủ nhất vào thời bấy giờ ở Âu Châu. Vì vậy, nếu nói rằng Thế Chiến II là một cuộc chiến tranh ý thức hệ chính trị phát xuất từ những diễn biến phức tạp của nền văn minh Âu Châu hiện đại thì đúng hơn.

        Thế chiến II kết thúc giữa thế kỷ 20 thì Chiến Tranh Lạnh liền xảy ra ngay sau đó, giữa Hoa Kỳ và Liên Bang Sô viết. Đồng thòi, nhiều nước Á Châu và Phi Châu đã liên tiếp dành được độc lập. Vào gần cuối thế kỷ này Liên Bang Sô Viết tan rã, trong khi Hoa Kỳ cũng không thể duy trì sức mạnh siêu cường như trước. Nói tóm lại, văn minh Âu Châu hiện đại, sau 5 thế kỷ cực thịnh, từ thời Phục Hưng và Cải Cách Tôn Giáo trong hai thế kỷ 15 và 16, đã không thể tránh được sự xuống dốc với những mâu thuẫn ngày càng gia tăng trong thế kỷ 20.

        Bất cứ nền văn minh nào cũng có phương diện sáng sủa và phương diện tăm tối. Những cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Âu Châu cận đại giúp phát triển khoa học và kỹ thuật, nhờ đó đem lại tiện nghi, phong phú, tự do và bình đẳng cho thế giới. Nhưng đáng buồn rằng người ta đã phải trả giá rất đắt cho những ân huệ đó. Sự thực là hai trận thế chiến và nhiều cuộc chiến tranh khác gây bao nhiêu tang tóc đã nhờ cậy vào các phương tiện của kỹ thuật hiện đại. Hai thành Phố Hiroshima và Nagaski là những bằng chứng hiển nhiên: Hơn 200,000 người đã là nạn nhân của bom hạnh tâm. Mối quan tâm của thế kỷ 21 còn khẩn thiến hơn nữa: sự cách biệt giữa các nước giàu phía bắc địa cầu và các nước nghèo phía nam, dân số gia tăng nhanh chóng, tài nguyên thiên nhiên ngày càng khô cạn, và ô nhiễm môi sinh – hai vấn nạn sau cùng này thường là những hậu quả trong tiến trình hiện đại hóa của các nước đang mở mang để giải quyết nạn nghèo khó.

        Những biến chuyển chánh trị cũng cho thấy mặt phải và mặt trái của chúng, cuộc cách mạng Pháp ở cuối thế kỷ 18 dùng tự do, bình đẳng, bác ái làm khẩu hiệu: chủ nghĩa Cộng Sản lúc đầu cũng chủ trương tự do, nhưng cả hai đều đã biến thành những quốc gia độc tài do một đảng duy nhất cai trị, mất hết những lý tưởng mà trước đó họ đã hứa hẹn. Sự tan rã của Liên Bang Sô Viết chấm dứt chế độ độc tài đã kéo dài 74 năm. Chủ nghĩa tự do, với sự hứa hẹn đem lại nhiều tự do hơn, cũng biến thành hỗn loạn, sự ổn định của xã hội nhường chỗ cho sự xáo trộn bất trắc. Cuộc cách mạng tin học toàn cầu đã giúp nhân loại gia tăng rất nhiều kiến thức và mở rộng nhãn quan thêm mãi; tuy nhiên, nó cũng đã gây ra những hỗn loạn tinh thần, làm giảm sự chú tâm của con người và đạo đức của thế giới.

        Âu Châu cận đại đã trải qua sự chuyển đổi từ thần quyền và chủ nghĩa phong kiến của thời trung cổ sang chủ nghĩa nhân bản lấy con người làm trung tâm. Sự chuyển đổi này chẳng phải là hoàn toàn phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế; thật ra hình ảnh của Thượng Đế đã được biến đổi thành thuyết không tưởng, thành tư tưởng giác ngộ và nhiều trào lưu ý thức hệ khác, giống như chí nguyện cao cả của Mục Sư Martin Luther King đã bị người ta dùng để phục vụ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ngay cả chủ nghĩa Mác-xít, đặt căn bản trên sự phủ nhận Thượng Đế, đã lấy sự sản xuất để thay thế cho Thượng Đế Toàn Năng, với giấc mơ thiên đàng Cộng Sản thay thế cho Vườn Địa Đàng của Kinh Thánh. Vì vậy chủ nghĩa Mác-xít đã được người ta coi như là một thứ tôn giáo trong thời đại vô thần.

        Thế kỷ 20 rất quí trọng giá trị của chủ nghĩa nhân bản – là chủ nghĩa đề cao sự tôn trọng nhân loại nói chung. Vậy mà chính trong thế kỷ này con người đã bị thờ ơ thậm tệ, đã bị sát hại tập thể, bị khai thác và lợi dụng. Chính trong thế kỷ này con người đã bị cơ giới hóa, bị tiêu chuẩn hóa và thương mại hóa tới độ làm mất cá tính. Khi chủ nghĩa nhân bản chỉ nhấn mạnh vào sự sinh tồn của con người và coi thường tiềm năng siêu việt của họ, thì chủ nghĩa đó đáng bị từ bỏ; bởi vì con người xứng đáng là con người là tuỳ thuộc phần lớn và siệu việt tánh của họ.

        Tôi đã nhấn mạnh vào phương diện thoái hóa của nền văn minh Âu Châu hiện đại - nền văn minh đã chi phối thế giới suốt 500 năm qua. Mọi phần của nó, dù là xấu hay tốt. có thể nói là bắt nguồn từ sự hiện đại hóa của văn minh Cơ Đốc Giáo. Triết gia Đức Frederich Nietzsche của hậu bán thế kỷ 19 từng nói “Thượng Đế đã chết,” với hy vọng là để phục hồi quyền lực toàn năng cho con người. Nhà tâm lý và xã hội học Erich Fromm (1900 –1980) nói rằng “vấn đề đối với thế kỷ 19 là Thượng Đế đã chết, còn vấn đề đối với thế kỷ 20 là nhân loại đã chết”, vì ông thấy nhân loại đã bị các hệ thống kỹ nghệ khổng lồ và chủ nghĩa cơ giới làm đồi trụy.

        Vậy thì thế giới phải làm sao để không còn coi trọng thể xác hơn tinh thần, và coi trọng tiến bộ hơn thiên nhiên, làm sao để không còn tin tưởng vào sự kiêu ngạo này nữa?

        Ngày nay tin thần tôn giáo Đông phương đang được nhiều người quan tâm tới hơn trước. Tôn giáo và tinh thần Đông phương luôn luôn coi trọng môi sinh thiên nhiên. Phật giáo tin rằng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” và “mọi vật, kể cả cỏ cây và đất, đều có mầm mống của Phật,” Thần đạo Nhật Bổn chủ trương con người và thiên nhiên chung sống hài hòa với nhau, thay vì cách biệt nhau. Tuy tôi không hiểu rõ những giáo lý của Khổng giáo, nhưng có một điều chắc chắn là trong cấu trúc gia tộc củ Nho giáo con người được đề cao về đạo đức hơn. Thánh Gandhi, lấy tinh thần Ấn Độ giáo làm cơ sở, đã chỉ trích những bất lợi tai hại của nền văn minh cơ giới hiện đại của Tây phương. Tư tưởng và tôn giáo Đông phương coi mọi thứ trong thiên nhiên đều là sự biểu hiện bình đẳng của sức sống vạn năng trong vũ trụ. Theo ý tôi thì quan điểm này hợp lý hơn là chủ trương của văn minh Tây phương hiện đại coi con người là trung tâm. Một đặc tính khác của tư tưởng và tôn giáo Đông phương là tinh thần khoan dung. Văn minh Tây phương hiện đại, vì tiến hóa từ những cuộc thánh chiến lâu dài của Thập Tự quân vào đầu thời kỳ cải cách tôn giáo - mạnh về đặc tánh xung động. So với điều đó, Khổng giáo, Phật giáo và Thần đạo Nhật Bổn có thể chung sống hài hòa qua sự ảnh hưởng lẫn nhau, tuy có những tranh chấp không đáng kể giữa tôn giáo này. Sử gia người Anh Arnold Joseph Toynbêe (1889 – 1975) đã chú trọng tới tính cách đa dạng của văn minh. Gần đây, nhà chánh trị học người Mỹ Samuel Philip Hungtington (1927 -) đã gây nhiều chú ý khi ông nói rằng tính cách đồng nhất của văn minh sẽ dần dần trở thành quan trọng, và trên tổng thể rộng lớn hơn, thế giới sẽ qui tụ còn khoảng bảy hoặc tám tôn giáo có liên hệ với nhau.

        Từ hai mặt tương phản nói trên của thế kỷ 20, chúng ta có thể kết luận rằng thế kỷ 21 sẽ là thời đại của ganh đua, ảnh hưởng lẫn nhau; nhưng một điều quan trọng hơn là nó cũng sẽ là thời đại của cộng tồn và hợp tác, giữa các nền văn minh khác nhau, để vượt qua phương diện đen tối của văn hóa. Do đó, tinh thần khoan dung mà tôi nói ở đây không giống như một số người nghĩ rằng đó cung cách khiêm tốn tuyệt đối để nhượng bộ cho sự bất khoan dung. Tôi muốn dùng chữ khoan dung như là sự phủ định những giáo điều và những uy quyền. Đó là thái độ tự chế để đừng đưa ra những phán xét tuyệt đối về những ý kiến trái ngược nhau. Nói một các khái quát, chúng ta hy vọng sự kết hợp giữa các tôn giáo Đông và Tây phương, đặt trên cơ sở của sự tương lập và tương sanh, sẽ là một phương thuốc chống độc hữu hiệu nhất đối với những lo ngại về nền văn minh hiện thời của chúng ta.

        Sau cùng, tôi xin nói vài lời giới thiệu về Phong Trào Liên Bang Thế Giới mà chúng tôi đã thúc đẩy. Sau khi trận Thế Chiến II kết thúc, thì Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối Đông và Tây liền theo sau, khiến cho thế giới bị đe dọa xảy ra chiến tranh hạch tâm. Nhà bác học Albert Einstein (1879-1955), một trong số ít khoa học gia thấy rõ sự khủng khiếp của chiến tranh hạch tâm, nên đã kêu gọi rằng ưu tiên thứ nhất là phải tránh sự hủy diệt toàn thể thế giới. Sử gia Toynbêe đã đề xướng rằng chỉ có một chánh phủ mới của thế giới mới có thể cứu được nhân loại. Phật tử Nhật Bổn chúng tôi đã nỗ lực cổ xúy việc thành lập Phong Trào Liên Bang Thế Giới mà chúng tôi tin rằng giống như Phật Quốc Tịnh Độ. Một Chánh phủ thế giới, xa lìa bất cứ nguy cơ chiến tranh nào, có thể là một cơ chế chánh trị, nhưng thật ra nó cần tới tâm thức nhiều hơn; do đó nó chỉ có thể được thực hiện qua sự cộng tác giữa các tôn giáo khác nhau, như Phật Giáo, và Ấn Độ giáo, v.v... Chúng ta vẫn còn bị đe dọa bởi chiến tranh hạch tâm, ô nhiễm môi sinh, và các tranh chấp chủng tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, chúng ta không tuyệt vọng. Chúng ta vẫn đang cố gắng hết sức để thúc đẩy sự chuyển đổi giá trị và ý niệm về sự tương-lập, tuỳ thuộc lẫn nhau, để hướng tới việc sáng tạo một nền văn minh mới trong thế kỷ 21.


       
                                                                                           tiếp      


      Giới Thiệu Tác Phẩm:     

Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại



Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi


Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.