Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang


Kinh Điển
Luật Giải
Luận Giải
Thiền Học
Tịnh Độ
Thơ Văn
Phật Học Cơ Bản
Nghi Lễ Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Phật Giáo & Đời Sống
Tạp Chí Văn Nghệ
Tác Giả & Dịch Giả
 
 

   CHÂN NGUYÊN
(Tạp Chí Văn Nghệ và Tư Tưởng Triết Học Tây Đông)
 

                                                                         MỤC LỤC                                                         Tiếp 



THƠ TRONG THƠ CỦA
WILLIAM CARLOS WILLIAMS
Phạm Công Thiện

 

Định nghĩa đầu tiên về William Carlos Williams có thể là lê thê như thế này: nhà thơ có một nhan đề dài dòng lê thê nhất cho một bài thơ ngắn nhất. Bài thơ của William Carlos Williams chỉ ngắn ngủi trọn vẹn như sau:

Hãy nhìn lá

Trên cỏ thu non

Hãy ngó nhìn cho rõ...!

Nguyên tác nằm ở trang 123 trong quyển Thi Tập gồm có 579 trang (The Collected poems of William Carlos Williams, volume I, 1909-1939):

Lo the leaves

Upon the new autumn grass

Look at them well!

Nhan đề của bài thơ ngắn trên là: “Nên viết chữ khít sát lại trên một mãnh giấy nhỏ, xếp thành hình thoi gọn chặt khít khao, sẽ được nhét vừa vặn vào miếng mề đay nhỏ đeo cổ của bất cứ một cô gái nào”. Nhan đề nguyên tác cũng dài lê thê không kém: “To Be Closely Written On A Small Piece Of Paper Which Folded Into A Tight Lozenge Will Fit Any Girl’s Locket”. Tại sao William Carlos Williams lại đặt nhan đề bài thơ như vậy? Chính cái nhan đề cũng đã là thơ. Hơn thế nữa, đó là thơ trong thơ. Cái mề đay đeo lủng lẳng trên cái cổ thon thon của cô gái nhỏ đã là một bài thơ: chữ viết nhỏ khít lại trên một mãnh giấy nhỏ đã là một bài thơ; mảnh giấy được xết lại thành hình thoi lại là một bài thơ nữa: mảnh giấy hình thoi được đút vừa vặn vào cái mề đay (médailon) cũng lại là một bài thơ nữa, trong mãnh giấy lại có một bài thơ (Hãy nhìn lá/ trên cỏ thu non/ hãy ngó nhìn cho rõ...). Như thế có đi đến định nghĩa thứ hai về William Carlos Williams rằng thơ của ông là thơ trong thơ, trong thơ của thơ và thơ của chính thơ về thơ trong thơ của thơ.

Tôi nói gì? Vẫn chưa đủ: chỉ trong nội bài thơ ngắn trên thôi mà William Carlos Williams đã đút nhét trọn vẹn thi phẩm của Walt Whitman vào giữa câu thơ của ông, như nhan đề thi phẩm Leaves of Grass của Walt Whitman và gần 500 trang thơ của Leaves of Grass được viết lại khít nhỏ đẻ nhét vào cái mè đay đeo cổ: mấy chữ Leaves of Grass được nhét gọn vào câu thơ của William Carlos Williams và được thêm mấy chữ “thu mới” (new autumn). Cũng cần nhắc lại rằng nhà thơ nổi tiếng Hoa Kỳ Robert Lowell đã nhận xét rất khít khao về William Carlos Williams khi nói đến thi tập Paterson: “thi phẩm của William Carlos Williams là tác phẩm Leaves of Grass của chúng ta” (Paterson is our Leave of Grass, the Hudson Review, XIV). Nói một cách khác, William Carlos Williams là Whitman của thế kỷ XX. Nói như thế vẫn chưa được, vì phải hiểu Whitman và phải hiểu William Carlos Williams, và có hiểu William Carlos Williams thì mới hiểu Whitman và có hiểu Whitman thì mới hiểu William Carlos Williams. Như thế có nghĩa là hiểu trong hiểu, trong hiểu của hiểu và hiểu của chính hiểu về hiểu trong hiểu của hiểu.

Tôi không phải chơi chữ và cố gắng viết cho hiểu, vì đây là lãnh vực của Triết Học Tây Phương hiện đại mà Triết Học Đức gọi là: Hermeneutik (chữ Anh dịch là: Hermeneutics: Giải Nghĩa Học, phương pháp giải tỏa những điều kiện để mở ra khả tính của việc nghiên cứu khảo sát có tính cách tính luận: (“conditions of the possibility of any ontological investigation”). Nói một cách cho dể hiểu hơn nữa, theo điệu Kant: “Những điều kiện để có thể hiểu được kinh nghiệm thi ca cũng đồng thời chính là những điều kiện để có thể hiểu được đối tượng (bài thơ) của kinh nghiệm thi ca”.

Kinh nghiệm Thi Ca là gì? Những điều kiện khả tính! Rồi những điều kiện khả tính là gì? Chúng ta có thể tiếp tục hỏi cho đến vô hạn, nhưng chúng ta vẫn chưa thực sự hỏi, vì thực sự hỏi chính là bắt đầu:

Bắt đầu,

từ những cái cá biệt

và làm chúng thành tổng quát...

Nói theo ngôn ngữ của Hàn Mặc Tử là chuyển cụ tượng thành trừu tượng.

Nguyên tác trong lời mở đầu thi tập Paterson của William Carlos Williams:

To make a start,

out of particulars

and make them general... 

Thơ là bắt đầu lại từ những cái đang có, những cái tại chỗ, tính cách cá biệt tại chỗ, cái gì thực sự quê hương là quê hương. Quê hương là cái tổng quát để gọi một cái gì rất “đất đai tại chỗ” mà ngôn ngữ thi ca của William Carlos Williams gọi là “the local”: phải hiểu “the local” ở đây là tinh túy huyết mạch của dân tộc tính và không có nghĩa thông thường của tự điển là: “cái gì thuộc về địa phương”. Thành phố Paterson của William Carlos Williams là một cái gì rất địa phương, nhưng qua ngôn ngữ thi ca của W.C. Williams thì thành phố Paterson trở thành Tất Cả Mọi Sự Thể và Tất Cả Mọi Sự Việc. PATERSON trở thành cha (pater), trở thành con (son), trở thành mặt trời, âm thanh (nguyên ngữ Pháp và Đức), trở thành người khổng lồ, người đàn ông, những giấc mộng di động, tất cả nghệ thuật thi ca đang thành hình và chuyển thể, thay hình đổi dạng thành ra cái chết, đời sống và tâm thức sáng tạo, Thể Tính của Thi Ca. Thi phẩm Paterson là những bài thơ trong một bài thơ nói về thơ trong những bài thơ, giống như bài thơ ngắn với nhan đề: “Nên viết chữ khít sát lại trên một mảnh giấy nhỏ, xếp thành hình thoi gọn chặt khít khao, sẽ được nhét vừa vặn vào miếng mề đay nhỏ đeo cổ của bất cứ cô gái nào.” (Nếu chúng ta chỉ phân tích theo kiểu nhà trường kinh viện thì nội một chữ Lo trong câu Lo the leaves thôi cũng đầy đủ dư vang của chữ Lo trong đầu câu thơ The Conqueror Worm của Edgar Allan Poe và chữ Lo trong bài Sonnet 143 của Shakespeare, chưa nói đến tất cả tính cách tương nhập, interrelation, interpenetration, “tương nhập, tương dung, tương nhiếp” giữa ý nghĩa của bài thơ The Conqueror Worm của E.A.Poe, bài Sonnet 143 của Shakespeare và bài thơ “Hãy nhìn lá/ trên cỏ thu non” của W.C. Williams).

Bây giờ xin nhắc tới T.S. Eliot, thi sĩ đồng thời với W.C. Williams. Thi hào T.S.Eliot sinh tại nước Mỹ và đã bỏ nước Mỹ mà sống trọn đời ở Anh Quốc và lấy quốc tịch Anh, T.S.Eliot đã ôm trọn tất cả văn hóa thế giới từ Đạo lý Ấn Độ Giáo cho đến Phật Giáo (ảnh hưởng rõ rệt trong thi phẩm The Waste Land) cho đến Dante, Goethe, Pascal, Baudelaire, Saint-John Perse và thần học thiên chúa giáo và triết học Tây Phương. Sự nghiệp thi ca của T.S.Eliot đã ảnh hưởng to tát mãnh liệt nhất đối với nền thi ca Anh Mỹ ở thế kỷ XX. T.S.Eliot đi sâu vào tất cả mê cung chằng chịt của cả nhân loại để nói lên sự mất gốc rễ thảm thiết của con người hiện đại. T.S.Eliot và Ezra Pound đã đẩy chủ nghĩa hư vô của thời hiện đại đến chỗ đường cùng; cả hai đều phản ứng lại chủ nghĩa lãng mạn của thi ca Tây phương từ cuối thế kỷ mười tám; cả hai đều đả phá chống đối chủ nghĩa lãng mạn, nhưng chính chủ nghĩa lãng mạn cũng chỉ là hậu quả của chủ nghĩa hư vô (theo Nietzsche thì chủ nghĩa hư vô xuất phát từ Socrates và Plato). Những nhà thơ hàng đầu của nền thơ ca Mỹ hiện đại là T.S.Eliot, Ezra Pound, Robert Frost, Wallace Stevens và William Carlos Williams; trong năm nhà thơ hàng đầu này, người đã đẩy kinh nghiệm thi ca đến chỗ bất ngờ nhất, tuyệt vời nhất, trọn vẹn nhất chính là William Carlos Williams. Tất cả sự nghiệp thi ca của William Carlos Williams là đương đầu đối kháng lại T.S.Eliot, Pound và Wallace Stevens (còn đối với Robert Frost thì con đường dân tộc tính có điều chính yếu khác hẳn với lộ trình của W.C. Williams; Robert Frost chỉ dùng địa phương Mỹ New England hay New Hampshire như là “bối cảnh” để thể hiện ý tưởng và suy tưởng như Reginald Cook đã nhận xét rất đúng trong quyển Robert Frost/A Living Voice, trang 24: “New England serves as the background setting the foreground is the poet’s ideas and reflections”, nhưng Reginald Cook đã sai lầm khi đồng hóa ý nghĩa “the local” (trường sở bản địa, tại chỗ đương xứ tiện thị) của ngôn ngữ William Carlos Williams và ý nghĩa chữ “local” (phương sở như là bối cảnh cho tư tưởng, ý tưởng, ý niệm siêu hình). Sự khác nhau giữa W.C. Williams và R. Frost đã hiện lên rõ rệt trong “phương trình thi ca” của W.C. Williams: “no ideas but in things” (không phải những ý tưởng mà ở trong lòng những sự vật). Tóm lại, ý nghĩa “local” của Williams nằm ở chỗ nhấn mạnh vào “things” (nhất là “trong”, “in things”) còn R. Frost thì ý nghĩa “local” được nhấn mạnh ở ý tưởng (“no things but in ideas”). Nhưng “things” của W.C. Williams không chỉ có ý nghĩa tầm thường “những sự vật, những sự việc” mà “things” ở đây phải được hiểu là “những sự vật, những sự việc của Thi Ca, của Thơ thuần túy, Thơ thực sự đúng nghĩa là Thơ.”

Sự khác nhau căn bản giữa Robert Frost và William Carlos Williams cũng là chỗ đứng khác nhau của hai nhà thơ Mỹ đối với hai quan niệm khác nhau về dân tộc tính, về nghệ thuật, về ngôn ngữ, về bản tính của thi ca. Mặc dù Frost cũng sử dụng ngôn ngữ đặc biệt của Hoa Kỳ và bối cảnh địa lý đặc biệt của Hoa Kỳ, nhưng nghệ thuật thi ca của Frost vẫn còn kẹt vào truyền thống thi ca Âu Châu; trái lại với T.S.Eliot, Ezra Pound, Wallace Stevens và Robert Frost, những đứa con Mỹ Châu lệ thuộc vào truyền thống văn hóa Âu Châu (nơi phát xuất ra chủ nghĩa hư vô thế giới), William Carlos Williams đã đi sâu trọn vẹn vào thể tính của truyền thống Âu Châu và đã vượt qua truyền thống ấy để trở về quê hương (chẳng những trong nghĩa đen mà cả nghĩa trắng, trong tất cả mọi ý nghĩa). Một câu nói của William Carlos Williams vào năm 1939 đáng được chúng ta lưu ý:

“Đối với tôi, Mỹ Châu có nghĩa là bất cứ nơi nào, bất cứ ở đâu và chỉ xảy ra có ý nghĩa bắt chợt rằng đó là Mỹ Châu cho chính tôi vì lý do đơn giản rằng đó là ... Mỹ Châu” (Ameria to me means any place, anywhere and just happens to mean Ameria to me for the simple reason that it is ... America)

Câu trên chỉ có nghĩa dễ hiểu rằng tất cả mọi sự đều là Thơ và Mộng, đều là một Tân Thế Giới, một lục địa chờ đợi mình khám phá và khai phá mỗi ngày, vì mỗi một nhà thơ là một Columbus đang khai mở ra cả một thế giới sáng tạo mới lạ mêng mông...

Từ lâu, chúng thường khi lầm lẫn ngay từ căn rễ mỗi lần chúng ta thảo luận về Dân Tộc Tính:

-         Chúng thường đồng hóa lầm lẫn chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa dân tộc với dân tộc tính;

-         Còn Cọng Sản Hà Nội thì lẫm lẫn đồng hóa chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa Cọng Sản Tây phương với dân tộc tính;

-         Chúng ta thường đồng hóa lẫm lẫn nhân chủng học, dân tộc học với dân tộc tính;

-         Chúng ta thường lẫm lẫn đồng hóa khoa học lịch sử Việt Nam với Sử tínhSử linh tư tưởng đích thực của Việt Nam;

-         Chúng ta thường đồng hóa lầm lẫn phong tục tập quán tục ngữ ca dao thần thoại dân tộc với dân tộc tính (vì tất cả phong tục tập quán tục ngữ ca dao thần thoại dân tộc đều là hậu quả tất yếu của dân tộc tính mà dân tộc tính lại lệ thuộc vào thần thoại tính (thần thoại tính là nền tảng cho tất cả thân thoại, cũng như linh thoại tính là Hố Thẳm của tất cả linh thoại, cũng như Sử linh Tư Tưởng là Hố Thẳm của tất cả lịch sử tử tưởng nhân loại)

-         Nguy Hiểm nhất là chúng ta đã sử dụng một cách vô thức bừa bãi những ý niệm văn hóa Tây phương hậu thời để giải thích và tìm hiểu dân tộc tính của Việt Nam

-         Không thể nào khai mở ra dân tộc tính của Việt Nam mà không phải tát cạn thể tính của Đông phương và của cả thể tính của Tây phương (những ý niệm Tây phương hậu thời đều là hậu quả của sự mất gốc rễ của chính văn hóa Tây phương và sự quên mất thể tính của Tây phương bởi chính Tây phương hiện đại)

-         Những nhà thơ thiên tài của Tây phương (như Holderlin, Rimbaud, Georg Trakl) đã lên đường trở về Thể Tính của Tây phương qua sự nghiệp thi ca của họ, và cũng qua sự nghiệp thi ca của họ, chúng ta cũng thấy họ đang lên đường trở về Nguồn Trong Trẻo, trở về Thể Tính của Đông phương

-         Thi Ca luôn luôn đi trước tất cả mọi hành động, chỉ có Thi Ca Việt Nam mới đưa ngôn ngữ Việt Nam trở về Thể Tính tinh túy của Việt Nam.

Chỗ đứng lặng lẽ của Thi Ca Việt Nam lưu vong hiện nay là không có chỗ đứng; chúng ta mất tất cả trường sở, mất tất cả bản địa, mất tất cả “đương xứ tiện thị”, mất tất cả phương sở và bối cảnh (mất tất cả ý nghĩa của chữ “the local” trong ngôn ngữ thi ca, chẳng những theo nghĩa của W.C. Williams mà ngay cả nghĩa thổ ngơi của R.Frost.)

Hiển nhiên lúc tự nhận là những nhà thơ Việt Nam lưu vong thì chúng ta không thể nào bỏ quên thi ca của nơi chốn mà chúng ta đang sống và nhất là không thể nào bỏ quên được thi ca của quê hương Việt Nam.

Trí Nhớ tưởng niệm là mẹ đẻ của Thi Ca Nhân Loại:

Sự đi xuống (hậu duệ) ra dấu kêu gọi

Cũng như sự đi lên (tiền bối) ra dấu kêu gọi

Trí nhớ là một thể điệu

Của sự thành tựu...

 

(The descent beckons

As the ascent beckons

Memory is a kind

Of accomplishment)

Mấy câu thơ trên của William Carlos Williams có ra dấu kêu gọi gì về chỗ đứng lặng lẽ của chúng ta hiện nay? Mấy chữ “descent” và “ascent” đều gợi ý mấy chữ Đức lạ thường của Nietzsche: “Untergang” và “Uebergang”, đồng thời “descent” cũng gợi lên ý “tính miêu duệ” và “tính hậu duệ” “hạ nguồn”, cũng như “ascent” gợi ý: “tính tiền nhân, tổ tiên, tiên bối” hay thượng nguồn trong trẻo.

**********
 


                                                                             MỤC LỤC                                                     Tiếp 


Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.