Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang


Kinh Điển
Luật Giải
Luận Giải
Thiền Học
Tịnh Độ
Thơ Văn
Phật Học Cơ Bản
Nghi Lễ Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Phật Giáo & Đời Sống
Tạp Chí Văn Nghệ
Tác Giả & Dịch Giả
 
 

   CHÂN NGUYÊN
(Tạp Chí Văn Nghệ và Tư Tưởng Triết Học Tây Đông)
 

                                                                         MỤC LỤC                                                         Tiếp 



TRẺ EM VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH
XÃ HỘI HÓA VÀO XÃ HỘI/VĂN HÓA MỸ
Tác Giả: Nguyễn Thanh Liêm

 

Mấy mươi năm trước, lúc tôi còn đi học ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có đọc một quyển sách của một nhà tâm lý xã hội học Pháp nói về ảnh hưởng của xã hội /văn hóa đối với đời sống tâm lý của con người. Tựa sách là gì và tác giả là ai bây giờ tôi không còn nhớ, tuy nhiên có một câu chuyện được kể lại trong sách làm cho tôi nhớ mãi không bao giờ quên. Đó là câu chuyện của hai cô bé Ấn Độ được người ta tìm thấy ở trong rừng vào lúc hai cô chỉ độ vào khoảng 8-10 tuổi gì đó. Hai cô không nói được tiếng người, cũng không đi trên hai chân như người ta. Hai cô đi trên bốn chân, có cử chỉ và ngôn ngữ y hệt như loài thú. Các nhà khoa học cho rằng hai cô đã bị bỏ rơi trong rừng từ lúc mới sanh và đã được thú rừng nuôi dưỡng. Khi được đem về với xã hội loài người, các cô được người ta dạy cho cách sống của loài người. Người ta phải mất rất nhiều thì giờ để dạy dỗ cho các cô nhưng kết quả chưa tới đâu thì hai cô đã chết. Xã hội loài người là cái gì rất xa lạ mà các cô không thích nghi được, mặc dù các cô có mang trong người cái mầm sinh vật của giống người.

Sự kiện trên đây cho thấy khi ta sanh ra và lớn lên trong xã hội/văn hóa nào thì ta sẽ được giáo dục uốn nắn để trở thành một phần tử của xã hội/văn hóa đó. Dù gốc là người ta, với cái gene của người ta đi nữa ta cũng không trở thành người ta được nếu ta không được nuôi dưỡng, giáo dục, uốn nắn trong xã hội loài người. Yếu tố xã hội/văn hóa là yếu tố quyết định trong quá trình làm cho con người trở thành người. Nói như thế không có nghĩa là yếu tố sinh vật không quan trọng. Thật ra yếu tố sinh vật cũng rất là quan trọng không thua gì yếu tố xã hội/văn hóa vì nếu không có cái gene của người ta thì dù có sanh ra và lớn lên trong xã hội loài người đi nữa con vật cũng không trở thành người ta được. Trở lại câu chuyện của hai cô bé Ấn Độ trên đây, ta thấy đây là trường hợp hết sức hy hữu, và ngày nay các nhà khoa học không làm sao kiểm nghiệm được.

Trường hợp ta thấy thường hơn là việc những đứa trẻ được cha mẹ nuôi đem về nuôi dưỡng ở một xã hội/văn hóa khác hơn là nơi chôn nhau cắt rốn của chúng như những trẻ Việt Nam, Trung Hoa, Đại Hàn được cha mẹ nuôi là người Mỹ đem về nuôi trên nước Mỹ từ lúc mới sơ sinh chẳng hạn. Những trẻ em này lớn lên có đời sống hoàn toàn Mỹ chớ không có dấu vết gì của xã hội/văn hóa gốc (ngoại trừ màu da và những nét đặc thù của cấu trúc thể xác của chủng tộc gốc). Nói chung khi được nuôi nấng, lớn lên trong xã hội/văn hóa nào, người ta sẽ trở thành con người trong xã hội/văn hóa đó, bất kể nguồn gốc của người đó được sanh ra ở đâu và bởi giống người gì.

Tiến trình nuôi dưỡng, giáo dục, uốn nắn, cùng lúc với tiến trình hấp thụ, tiêu hóa những điều học hỏi để trở thành một phần tử của xã hội/văn hóa được các nhà văn hóa xã hội học gọi chung là tiến trình xã hội hóa (socialization). Đây là một tiến trình vô cùng quan trọng trong việc làm cho con người được trở nên người trong một nền văn hóa hay một xã hội nào đó. Đó là tiến trình giúp cho con người học hỏi và áp dụng các sinh hoạt tâm sinh lý chung cho những người sống cùng trong một cộng đồng, một xã hội, một nền văn hóa với nhau. Nhờ có tiến trình xã hội hóa đó mà người ta có thể sinh hoạt được dễ dàng, hữu hiệu trong đời sống xã hội. Khi ta sanh ra và lớn lên trong xã hội/văn hóa Việt Nam, ta sẽ được xã hội hóa vào xã hội/văn hóa Việt Nam, và nhờ tiến trình xã hội hóa này mà chúng ta sinh hoạt được dễ dàng hữu hiệu trong xã hội/văn hóa quen thuộc của mình. Nếu bỗng nhiên chúng ta bị bức rời khỏi xã hội/văn hóa Việt Nam và đem đặt một cách đột ngột vào một xã hội/văn hóa khác, chúng ta sẽ thấy vô cùng bỡ ngỡ, vụng về, kém hẳn hiệu năng, không biết hành sự như thế nào cho có kết quả dễ dàng như chúng ta đã làm trong không khí quen thuộc của xã hội/văn hóa mình.

Chúng ta phải mất rất nhiều thì giờ để học hỏi, làm quen dần với nếp sống trong xã hội/văn hóa mới. Lâu dần chúng ta mới thích nghi vào môi trường sinh sống mới. Các hiện tượng đồng hóa (assimilation) và đồng hóa văn hóa (cultural assimilation, hay acculturation) thường được các nhà xã hội học nói đến. Đúng ra đó là sự biến đổi trong tiến trình xã hội hóa của con người. Xã hội hóa là một tiến trình liên tục trong suốt đời người. Tuy có thể có lúc nhanh (khi con người còn nhỏ tuổi hay khi có đổi mới hay cách mạng xã hội xảy ra), có lúc chậm (khi lớn tuổi hay khi xã hội không thay đổi), nhưng bao giờ cũng diễn ra liên tục. Trong trường hợp của người di dân, định cư trong một xã hội/văn hóa mới, tiến trình xã hội hóa bị xáo trộn và thay đổi. Sự xáo trộn, thay đổi nầy bao gồm hai sự việc:

• Một là xóa dần (hay xóa phần nào đó) công trình xã hội hóa đã có từ trước vào trong xã hội/văn hóa cũ;

• Hai là bắt đầu xã hội hóa vào trong xã hội/văn hóa mới.

Các nhà văn hóa xã hội học gọi hai sự việc nầy là desocialization và resocialization mà tôi tạm dịch là triệt xã hội hóa và tái xã hội hóa. Khi ta được ra đời và lớn lên một thời gian trên đất nước Việt Nam thì ta đã học được tiếng nói cũng như nhiều hình thức sinh hoạt mang tính chất văn hóa Việt, tức cũng như ta đã xây cho ta một ngôi nhà văn hóa rất Việt Nam trên nền tảng của quê cha đất tổ. Đó là quá trình socialization vào xã hội/văn hóa Việt Nam. Bây giờ nếu chúng ta phải xa lìa quê cha đất tổ, phải rời bỏ xã hội/văn hóa cũ, rời bỏ nếp sống cũ để bắt đầu một lối sống mới trong xã hội/văn hóa mới là xã hội/văn hóa Mỹ, chúng ta phải trải qua một thời gian xáo trộn, thay đổi để có thể thích nghi vào cuộc đời mới, chẳng khác nào như thể ta mang ngôi nhà văn hóa đã có của mình sang xây dựng lại trên đất Mỹ. Muốn cho nó chen được vào khu nhà văn hóa Mỹ, ta phải đập phá phần nào ngôi nhà cũ của mình để sửa nó lại thành ngôi nhà mới, thích hợp với khung cảnh văn hóa Mỹ hơn. Tiến trình đập phá ngôi nhà cũ là desocialization, và việc sửa chữa cho thành nhà văn hóa mới là resocialization vậy. Những trường hợp xã hội hóa, triệt xã hội hóa và tái xã hội hóa cũng có thể tìm thấy ở ngay trong một xã hội, một quốc gia với các khu văn hóa (subculture) khác biệt. Thí dụ như sự di cư của người Bắc và người Trung vào miền Nam nước Việt. Những người này cũng trải qua những biến đổi tâm lý từ sự triệt xã hội hóa vào khu văn hóa cũ để tái xã hội hóa vào khu văn hóa mới như những người di dân tỵ nạn từ quốc gia xã hội này đến quốc gia xã hội khác.

Lẽ dĩ nhiên là tiến trình tái xã hội hóa này diễn ra nhanh hay chậm là tùy ở nhiều yếu tố mà quan trọng hơn hết là những yếu tố sau đây:

• Tuổi tác và quá trình xã hội hóa trong xã hội cũ. Càng lớn tuổi khi di dân, người ta càng có nhiều thời gian để được xã hội hóa vào xã hội cũ, và do đó nếp sống quen thuộc của xã hội/văn hóa cũ càng hằn sâu trong tâm thức con người. Điều nầy làm cho sự triệt tiêu quá trình xã hội hóa vào xã hội cũ sẽ phải diễn ra rất chậm, làm trở ngại rất nhiều cho tiến trình tái xã hội hóa vào xã hội mới. Nói một cách nôm na là khó quên văn hóa cũ và khó nhận văn hóa mới, hoặc là sự quên cái cũ và nhận cái mới xảy ra rất chậm. Thế hệ lớn của người tỵ nạn Việt Nam ít thay đổi nhất về phương diện thích nghi văn hóa. Phần đông các cụ vẫn duy trì các giá trị của xã hội xưa và những nét đặc thù của nền văn hóa cũ. Ngược lại lớp người thuộc thế hệ trẻ học hỏi ngôn ngữ mới, thu nhận giá trị của nền văn hóa mới một cách nhanh chóng. Qua Mỹ chẳng bao lâu họ quên tiếng mẹ đẻ, họ sống như người Mỹ. Họ được Mỹ hóa rất nhanh, và đối với thế hệ lớn, họ đã trở thành “những người Mỹ con.” Các cụ di cư vào Nam hồi năm 1954 vẫn giữ được nhiều nét đặc thù của văn hóa Hà Hội trong khi những người trẻ thì lại được Nam Kỳ hóa nhiều hơn.

• Mức độ khác biệt giữa hai nền văn hóa cũ và mới. Người Âu Châu sẽ được tái xã hội hóa trên đất Mỹ nhanh hơn người Á Đông, bởi văn hóa Mỹ với văn hóa Âu Châu không khác nhau bao nhiêu trong khi đó văn hóa Á Đông và văn hóa Mỹ khác biệt nhau rất nhiều. Những người Việt Nam đã có cơ hội làm quen với văn hóa Âu Tây sẽ được xã hội hóa vào xã hội Mỹ dễ dàng hơn là những người Việt Nam không có cơ hội làm quen nhiều với nền văn hóa Âu Mỹ. Người miền Trung nói tiếng Nam dễ hơn người miền Bắc, và họ cũng dễ được Nam Kỳ hóa hơn người đến từ miền Bắc.

• Thái độ đối xử với người di dân của cộng đồng xã hội mới. Nếu xã hội mới vui vẻ chấp nhận người di dân, hết lòng giúp đỡ người di dân trong bước đầu khi mới đến định cư, người di dân sẽ thích gần gũi với cộng động mới và sẽ dễ được tái xã hội hóa nhanh hơn. Kết quả của nhiều công cuộc nghiên cứu của nhà tâm lý xã hội học Alan Richardson cho thấy diễn tiến tâm lý của người di dân đối với xã hội/văn hóa mới như sau: Khi người di dân định cư ở một xã hội khác, sự biến đổi tâm lý sẽ xảy ra. Nếu việc định cư ở buổi đầu có kết quả tốt đẹp, người di dân sẽ cảm thấy thỏa mãn với cuộc sống mới. Tâm trạng thỏa mãn này sẽ đưa đến những tình cảm gắn bó với cộng đồng mới, nhận mình như một phần tử của cộng đồng mới, và từ đó sẽ dần dần chấp nhận hệ thống giá trị và nền văn hóa của xã hội mới. Sự tái xã hội hóa vào xã hội mới sẽ diễn tiến nhanh hơn khởi sự từ tình cảm gắn bó đó của người di dân. Ngược lại nếu người di dân bị dân bản xứ kỳ thị, đối xử tệ, hoặc không được sự giúp đỡ nào của xã hội mới, phải chịu nhiều khổ sở trong cuộc sống mới thì tâm trạng bất mãn sẽ xảy ra. Từ tâm trạng bất mãn đó người di dân sẽ không nhận xã hội mới, không muốn gần gũi và trong trường hợp này sự tái xã hội hóa vào xã hội mới sẽ rất khó khăn chậm chạp.

• Mức độ tập trung và sự gần gũi của cộng đồng người di dân. Nếu số lượng người di dân đông và sống tập trung với nhau thì sự tái xã hội hóa sẽ rất chậm và có nhiều trở ngại. Nhất là khi đã có một cộng đồng người di dân ở đó thì nếp sống cũ có thể sẽ kéo dài và người mới tới không có nhu cầu phải vứt bỏ cái cũ để học hỏi cái mới. Sự đồng hóa văn hóa không nhất thiết phải xảy ra. Trường hợp của người tỵ nạn Việt Nam định cư ở vùng San Jose hay Orange County chẳng hạn. Không cần biết tiếng Anh, không cần được Mỹ hóa chút nào vẫn có thể sống dễ dàng ở những nơi này vì ở đây đã có một xã hội (một cộng đồng) Việt Nam nho nhỏ với những đặc tính văn hóa Việt Nam. Ngược lại, những người Việt tỵ nạn định cư rải rác ở những nơi thưa thớt người Việt như ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ thì nhất định phải được Mỹ hóa nhiều hơn mới có thể sống còn được ở những nơi đó. Trường hợp của đồng bào Bắc Việt di cư vào Nam hồi năm 1954 cũng vậy. Những người định cư rải rác ở các tỉnh lỵ, thành phố ở miền Nam sẽ thay đổi và thích nghi vào văn hóa (khu vực) của miền Nam nhiều hơn là những người sống tập trung ở các khu tỵ nạn như Hố Nai, Biên Hòa chẳng hạn.

• Tâm lý của người di dân. Nếu người di dân không muốn và không có một cố gắng nào trong vấn đề thích nghi văn hóa thì sự tái xã hội hóa vào xã hội mới sẽ phải xảy ra rất chậm.

• Có thể thêm vào những yếu tố quan trọng trên đây một yếu tố quyết định nữa là giới tính (nam hay nữ). Một số các nhà xã hội học cho rằng phái nữ dễ thích nghi vào xã hội/văn hóa mới hơn phái nam. Phụ nữ học tiếng Anh nhanh hơn nam giới, họ cũng chấp nhận hệ thống giá trị của xã hội/văn hóa mới nhanh hơn đàn ông.

Tóm lại kết quả của tiến trình tái xã hội hóa ở đây là mức độ thích nghi văn hóa vào xã hội mới hay đồng hóa văn hóa, và cũng có thể là mức độ đồng hóa hiểu theo nghĩa chữ đồng hóa trong thuyết đồng hóa của Robert Park. [Ngày nay nhiều người cho rằng thuyết đồng hóa của Park sai, và người ta đưa ra nhiều dẫn chứng cho thấy nhiều nhóm di dân thiểu số tuy đã định cư lâu đời trên xứ Mỹ vẫn giữ được những nét đặc thù của nền văn hóa gốc chớ không bị đồng hóa theo tiến trình đồng hóa mà Robert Park đã nêu ra trong thuyết đồng hóa của ông. Từ đó nhiều thuyết khác ra đời để giải thích cho mối liên hệ giữa các giống dân ở đây (trên đất Mỹ), chẳng hạn thuyết hỗn hợp của Zangwill, thuyết văn hóa đa nguyên của Horace Kallen, của Moynihan hay Milton Gordon. Tôi nghĩ là thuyết của Park không sai. Người ta có thể đi đến tình trạng bị đồng hóa nếu một số điều kiện vật chất và tinh thần, xã hội và tâm lý nào đó được thỏa mãn. Bằng chứng có thể nêu ra ở đây là sự bị đồng hóa vào văn minh Mỹ của người Mỹ gốc Phi (Mỹ Đen) ở Hoa Kỳ, hay sự bị đồng hóa của người Mông Cổ vào văn minh Trung Hoa hồi thời Nguyên bên Trung Quốc. Hơn nữa nếu ta hiểu chữ đồng hóa theo nghĩa của các nhà tâm lý xã hội học (như Eisenstadt, Ronald Taft hay Alen Richardson) thì ta thấy có nhiều người thuộc nhóm thiểu số đã được đồng hóa vào xã hội/văn hóa Mỹ mặc dầu cả nhóm nói chung chưa bị đồng hóa (tức là nhìn sự việc ở bình diện cá nhân chớ đừng nhìn sự việc ở trên bình diện rộng lớn toàn diện). Nhìn từ bình diện cá nhân ta thấy một số người Trung Hoa, Nhật, kể cả Việt Nam nữa đã được Mỹ hóa hầu như 100%; những người đó về phương diện tâm lý xã hội có thể xem như đã bị đồng hóa vào xã hội/văn hóa Mỹ mặc dù nguyên cả nhóm không hay chưa bị đồng hóa].

Với những người được sinh ra và lớn lên ở đây thì không có vấn đề tái xã hội hóa, mà chỉ có một tiến trình duy nhất là xã hội hóa vào xã hội/văn hóa Mỹ mà thôi. Trẻ con Việt Nam sinh trưởng trên đất Mỹ phải trải qua tiến trình đồng hóa vào xã hội Mỹ. Tuy nhiên tiến trình đó có trọn vẹn không, có nhanh chóng, suông sẻ không còn tùy ở gia đình và cộng đồng nó lớn lên trong đó.

Trong tiến trình xã hội hóa cũng như tái xã hội hóa, giáo dục đóng vai trò then chốt. Giáo dục ở đây bao gồm mọi hình thức, mọi khía cạnh của sự dạy và học, hay sự trao cho của một người và sự nhận lãnh của người khác những kiến thức/kỹ năng cần thiết để sinh sống trong một xã hội/văn hóa nào đó. Học và dạy là những sinh hoạt bắt buộc phải có của con người trong tiến trình xã hội hóa. Ở đâu và bất cứ lúc nào có con người, có sự sống là có sự kiện học và dạy, dù tích cực hay tiêu cực, dù có ý thức hay không có ý thức, có tổ chức có quy củ hay không có tổ chức không có quy củ. Có ba nguồn chính hay ba nơi chính cung ứng giáo dục cho con người. Đó là gia đình, trường đời (xã hội), và học đường. Cả ba đều góp phần quan trọng vào công trình xã hội hóa, hay xây dựng ngôi nhà văn hóa cho con người để con người có thể hoạt động hữu hiệu trong xã hội/văn hóa liên hệ. Ngôn ngữ, lời nói và cách nói, cử chỉ, thái độ, kiến thức, kỹ năng, suy luận, phán đoán, tất cả đều được học ở những người khác, và đều được xuất phát từ ba nguồn chính nói trên. Nếu cả ba đều từ một nền văn hóa và đều hướng về một nền văn hóa thì tiến trình xã hội hóa sẽ được suông sẻ dễ dàng. Ngược lại nếu ba nguồn giáo dục trên đây không xuất phát từ một nền văn hóa và cũng không hướng về cùng một nền văn hóa thì tiến trình xã hội hóa sẽ khó khăn, chậm chạp hơn. Thí dụ một đứa trẻ sinh ra ở Mỹ, lớn lên trong gia đình Mỹ, đi học trong học đường Mỹ, làm việc và sinh sống trong xã hội Mỹ, thì tiến trình xã hội hóa vào nền văn hóa Mỹ của đứa trẻ này sẽ rất suông sẻ, dễ dàng. Một đứa trẻ sinh ra ở Việt Nam, lớn lên một thời gian trong gia đình Việt Nam, bây giờ vào học trong học đường Mỹ để sẽ sống trong xã hội Mỹ, tiến trình tái xã hội hóa vào xã hội Mỹ sẽ có phần khó khăn hơn trường hợp trước. Ở trường hợp này nếu gia đình đã được Mỹ hóa thì việc Mỹ hóa của đứa trẻ sẽ xảy ra dễ dàng và nhanh chóng hơn. Ngược lại nếu gia đình vẫn duy trì nếp sống Việt Nam thì tiến trình tái xã hội hóa của đứa trẻ vào xã hội Mỹ sẽ bị ít nhiều trở ngại. Trường hợp khó khăn rắc rối nhất là trường hợp những trẻ Việt Nam sinh ra trong gia đình Việt Nam, lớn lên trên đất Mỹ, học trong học đường Mỹ, sống trong xã hội Mỹ nhưng muốn duy trì văn hóa Việt Nam. Việc học tiếng Việt và nếp sống Việt Nam của các em sẽ rất khó khăn, chậm chạp bởi cả ba nguồn cung ứng giáo dục đều hướng vào việc xã hội hóa vào nền văn hóa Mỹ chớ không phải xã hội hóa vào văn hóa/xã hội Việt Nam. Học một ít tiếng Việt mà không có cơ hội dùng lại ở trong gia đình hay ở ngoài đời thì sự ghi nhớ (memorization), giữ lại (retention), và nội tâm hóa (internalization) các tiếng đó sẽ rất khó thực hiện. Cho nên hiệu quả của việc dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cho các em Việt Nam sinh trưởng trên nước Mỹ có thể rất ít nếu không có sự tiếp tay mạnh mẽ, đắc lực của gia đình và cộng đồng người Việt. Có những cái thiếu hay là sự vắng mặt của những yếu tố cần thiết trong việc làm cho sự dạy và học có hiệu quả. Những yếu tố quan trọng và thiếu vắng đó là: (1) động cơ thúc đẩy (motivation), (2) phần thưởng (reward), (3) củng cố/tăng cường (reinforcement), (4) cơ hội giữ lâu (retention), và (5) cơ hội chuyển dụng (transference). Đó là chưa nói đến những phần vụ chuyên môn trong vấn đề truyền thụ như hàng ngũ giảng viên, tài liệu giáo khoa, khung cảnh/môi trường dạy dỗ, v.v...

Lẽ dĩ nhiên là cũng có một số người Việt Nam chủ trương là nên để cho con mình trở thành người Mỹ về văn hóa, nghĩa là để cho chúng được xã hội hóa vào văn hóa Mỹ như các trẻ con Mỹ. Nhưng ngược lại cũng có những người muốn cho con mình còn giữ lại một số những nét đặc thù nào đó của nền văn hóa Việt. Người ta cố tìm cơ hội để cho con em học tiếng Việt. Những ý định cũng như những cố gắng đó rất đáng được khuyến khích, cổ vũ và giúp đỡ. Tuy nhiên chúng ta không thể không nhìn thấy những khó khăn trở ngại khi nhìn vào tiến trình xã hội hóa đã nói trên đây. Chúng ta thấy rất nhiều trẻ em Việt Nam khi gặp nhau, nói chuyện với nhau, dùng toàn tiếng Mỹ. Họ có lối sống gần y hệt như Mỹ. Khi có cơ hội phải nói tiếng Việt thì họ phải tìm chữ một cách khó khăn, phát âm lơ lớ y như người ngoại quốc bắt đầu học tiếng Việt. Một số ít khác tuy đã có nhiều cố gắng học hỏi tiếng Việt nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn khi diễn tả/phát biểu, phải chen rất nhiều tiếng Mỹ vào trong câu nói của họ. Trường hợp này rất thường xảy ra ở trên đài phát thanh hay trên đài truyền hình Việt Nam khi có những chương trình liên hệ tới những người trẻ hay do những người trẻ đảm trách. Chúng ta cũng có nhiều cơ hội tham dự những cái đám cưới nửa Việt nửa Mỹ, gia đình của chúng ta đã có khá nhiều rể Mỹ hay dâu Mỹ và một số cháu nội, cháu ngoại nửa Mỹ nửa Việt.

Nhìn chung, có thể cả cộng đồng người Việt ở vùng Little Saigon chắc sẽ còn tồn tại lâu dài, nhưng cũng sẽ biến đổi dần về dài về lâu. Nhưng nhìn ở phương diện cá nhân, chúng ta không thể không lo ngại rằng tiến trình xã hội hóa ở đây sẽ làm cho nhiều cá nhân Việt Nam trong tương lai sẽ được xã hội hóa vào nền văn hóa Mỹ nếu gia đình không cố gắng giữ nề nếp, lối sống Việt và trường học không dành cho tiếng Việt và văn hóa Việt một chỗ đứng quan trọng hơn hiện nay.

**********
 


                                                                             MỤC LỤC                                                     Tiếp 


Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.