Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
Đã Phát Hành:

 Phủ Định Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán
 Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi
 Giọt Sương Huyễn Hóa
 Pháp Tu Quán Âm
 Trung Luận
 Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại
 Lược Sử Thời Gian
 Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung
 Bước vào Thiền Cảnh
 Đại Cương Triết Học Trung Quán
 Đại Tạng Kinh Nhập Môn
 Cẩm Nang Nhân Sanh
 Thập Nhị Môn Luận
 Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21
 Con đưòng dẫn đến hạnh phúc đích thực
 Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo

CON ĐƯỜNG DẨN ĐẾN HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC
Tác Giả-NARADA MAHA THERA
Dịch Giả-THÍCH VIÊN LÝ

Lời Giới Thiệu

     Chữ Niết Bàn (Nirvana hay Nibbana) có thể được diễn nghĩa như là sự dập tắt những dục vọng thuộc giác quan. Nhiều người thường có cảm tưởng rằng họ có thể tìm được an lạc và hạnh phúc vĩnh cửu bằng cách cung cấp cho chính mình ngày càng nhiều những thứ vật chất để thỏa mãn các giác quan của họ. Nhưng, đó là một công việc không bao giờ chấm dứt. Chúng ta càng cung cấp nhiều thứ cho các giác quan của mình thì chúng lại càng đòi hỏi thêm nhiều hơn nữa. Bởi vậy, không ai có thể làm thỏa mãn cơn khát vô tận của các giác quan. Con người có thể làm việc cực nhọc cho tới hơi thở cuối cùng để mong làm thỏa mãn các khát vọng của họ; nhưng, tới lúc chết họ vẫn không thể dập tắt cơn khát giác quan của mình. Sự ham muốn hay khát vọng sẽ tiếp tục chế ngự họ ngay cả khi họ không còn khả năng sử dụng các giác quan để hưởng những lạc thú đó.
     Phương pháp luôn luôn hữu hiệu của Đức Phật để dập tắt cơn khát này là hãy khiến cho các giác quan của chúng ta trở nên thanh tịnh, thay vì cố gắng làm thỏa mãn chúng. Muốn như vậy, chúng ta phải hiểu thực tướng (bản chất đích thực) của cuộc đời này và những quy luật phổ quát trên thế gian. Chúng ta phải can trường để khỏi trở thành nô lệ của các giác quan. Chúng ta phải học cách kiểm soát các giác quan và tâm trí qua tu tập, khắc kỷ và tự chế. Chúng ta phải học tập để đạt được sự hài lòng với hiện tại của mình và vô chấp thủ. Rất ít người ý thức được rằng nguyên nhân của đau khổ là do sự chấp thủ và khao khát của họ đối với nhiều thứ. Họ không chịu hiểu rằng một ngày kia họ sẽ phải giã biệt tất cả mọi thứ mà họ trân quí trên thế gian này.
     Niết Bàn của Phật giáo hoàn toàn khác hẳn với thiên đàng của các tôn giáo khác. Con đường của Phật giáo để tiến tới giải thoát và cực lạc vĩnh hằng không thể nào đạt được nếu con người không tự thanh tịnh hóa bằng cách trở thành một người hoàn hảo. Nhưng tín đồ của các tôn giáo khác tin rằng họ có thể tìm được giải thoát cho mình qua ảnh hưởng của Thượng Đế, bằng cách cầu xin và tin tưởng vào Ngài. Người Phật tử cũng tin rằng có những cảnh thiên giới nào đó dành cho những người tốt đã từng có những hành vi đáng quí trọng, để họ được hưởng những lạc thú thuộc cảm quan; nhưng trong những cảnh giới như vậy không ai có thể tìm thấy cực lạc vĩnh cửu mà chỉ có hạnh phúc tạm thời, bởi vì một ngày nào đó thì những lạc thú đó cũng sẽ phải chấm dứt. Theo Phật giáo, thiên giới chẳng phải là nơi mà con người có thể giải thoát khỏi Vòng Luân Hồi Sanh Tử. Vì khi nào con người vẫn còn khao khát những lạc thú giác quan, thì họ sẽ vẫn còn tiếp tục ở trong Vòng Luân Hồi Sanh Tử.
     Có sự khác biệt lớn giữa lạc thú mà con người được hưởng từ sự thỏa mãn giác quan và lạc thú mà họ được hưởng nhờ tự kiềm chế sự khao khát đó. Cho nên, Đức Phật là người đầu tiên dạy rằng lạc thú cao nhất ở trên đời đạt được bằng cách kiểm soát các giác quan của chúng ta chứ chẳng phải là bằng cách tha hồ chiều theo sự khao khát của chúng. Trong khi một số tôn giáo nói rằng chúng sanh đạt được sự bất tử sau khi chết, một số khác nói rằng không có đời sau nào nữa sau khi chết. Nhưng theo Phật giáo thì cả hai quan điểm này đều không thể chấp nhận được. Tất cả những biến đổi trong cuộc đời là do những hành động tốt và xấu của một cá nhân. Chúng ta không thể thoát khỏi đau khổ trong khi chúng ta vẫn còn có những khát ái, vô minh.
     Trừ phi chúng ta trở thành con người hoàn hảo bằng cách tận diệt tất cả những ô trược của mình, chúng ta sẽ không thể thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử, phiền não và những gánh nặng khác.
     Người ta suốt đời cứ phải tranh đấu trên cõi đời này để cố gắng tìm an lạc và hạnh phúc bằng cách áp dụng những phương pháp sai lầm, mà không biết tới con đường chân chánh, vì sự ngu muội của chính họ.
     Theo Phật giáo, không ai có thể đạt được giải thoát hay cực lạc vĩnh cửu chỉ bằng cách cầu nguyện một đấng thần linh hoặc bằng cách cử hành những nghi thức cúng tế. Muốn đạt được giải thoát, chúng ta phải là người tốt đối với cả chính mình lẫn tha nhân. Chúng ta phải trau dồi bản thân bằng cách thực hành một số giới hạnh, bằng cách tránh làm những điều ác và bằng cách thanh lọc tâm ý. Không ai khác có thể thanh tẩy cho chúng ta bằng cách rửa sạch tất cả những tội lỗi và ác tâm của chúng ta. Chúng ta phải tự làm việc đó cho chính mình.
     Không bao giờ chúng ta có thể giải thích Niết Bàn bằng ngôn ngữ một cách đầy đủ và thỏa đáng, bởi vì ngôn ngữ của con người quá hạn hẹp và thiếu sót để có thể bày tỏ hoặc mô tả thực tướng của Chân Lý Tuyệt Đối hoặc Thực Tại Tối Hậu, tức là Niết Bàn. Ngôn ngữ được quần chúng tạo ra và sử dụng để bày tỏ những sự vật và ý tưởng mà các giác quan và tâm trí của họ đã có kinh nghiệm. Loại kinh nghiệm siêu phàm giống như Chân Lý Tuyệt Đối không thuộc những loại đó. Ngôn từ là những biểu tượng dùng để tượng trưng cho những sự vật và ý tưởng mà chúng ta đã biết, nhưng các biểu tượng này không thể nào chuyển vận đầy đủ thực tướng của ngay cả những sự vật tầm thường. Ngôn ngữ bị coi là hư ngụy và dẫn tới hiểu lầm trong vấn đề tìm hiểu chân lý. Dù sao, chúng ta không thể loại bỏ ngôn ngữ. Nhưng nếu chúng ta mô tả và giải thích Niết Bàn bằng những từ ngữ xác định thì chúng ta tức thời có khuynh hướng chụp bắt một ý tưởng thường được liên kết với những từ ngữ đó; và thường thường thì chúng có những ý nghĩa trái ngược hẳn. Vì vậy, Niết Bàn thường được mô tả bằng những từ ngữ phủ định - có lẽ đây là đường lối ít nguy hiểm hơn. Do đó, Niết Bàn thường được diễn đạt bằng những từ ngữ phủ định, như “sự dập tắt khao khát, vô điều kiện, không còn tham dục, tận diệt, thoát ra, hoặc dập tắt, v.v.”
     Có nghĩa là sự diệt trừ hoàn toàn sự khao khát đó, từ bỏ nó, chối bỏ nó, giải thoát và xa lìa khỏi nó.
     Niết Bàn được mô tả bằng những từ ngữ phủ định như “Làm lắng xuống tất cả những sự vật có điều kiện, diệt trừ tất cả những ô trược.” Tuy nhiên, nhiều người cũng có những ý niệm sai lầm rằng chính chữ Niết Bàn là phủ định và bầy tỏ sự “tự hủy.” Chắc chắn Niết Bàn không phải là sự tự hủy cái ngã, bởi vì không hề có cái ngã để mà hủy diệt. Nếu có sự hủy diệt nào đó thì là hủy diệt ảo tưởng và ý tưởng sai lầm về cái ngã.
     Phật giáo chủ trương rằng sự tận diệt vô minh, ngu muội, là con đường giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử; nhưng chúng ta không thể đạt tới sự giải thoát đó bằng cách nhập vào cảnh giới của đấng Phạm Thiên (Brahma), hoặc Thượng Đế, mà các tôn giáo nói rằng con người chỉ có thể đạt tới ở kiếp sau. Theo Đức Phật, chiến thắng đạt được qua sự tận diệt vô minh là loại chiến thắng mà chúng ta có thể đạt tới và được hưởng ngay trong kiếp này. Đó chính là ý nghĩa của lý tưởng về đạo quả A-La-Hán - cuộc đời của một con người trở thành hoàn hảo nhờ nội quán, cuộc đời của một người đã đi theo Bát Chánh Đạo và đã cắt đứt tất cả những xiềng xích, và đã thực hành đầy đủ hệ thống tự tu và tự chế của Phật giáo.
     Theo Đức Phật, loại đời sống siêu việt này có thể đạt được một cách bình thường trước khi nhục thân của con người chết đi, và ngài coi đó là loại hạnh phúc cao đẳng nhất, đi cùng với ý thức về sự hủy diệt của tham dục và chấp ngã. Trong thực thể siêu việt tuyệt đối này, con người thoát khỏi ý thức về cái ngã tách biệt của họ và hòa nhập vào cảnh giới Niết Bàn. Lúc đó con người trở thành chính hiện thân của Mười Đại Hạnh Ba-La-Mật, gồm Bố Thí (dana), Trì Giới - h?nh (sila), Xuất Thế - Viễn Ly tr?n c?u (nekkhamma), Trí Huệ (panna), Nghị lực - Nhẩn nhục (viriya), Tha Thứ - nh?n nh?c (khanti), Chân Đế (sacca), Gia Trì - cương quyết (adhitthana), Từ Tâm (metta), và Xả (upekkha).
     Sự biến đổi đi từ một cuộc đời vị kỷ sang một cuộc đời quên cả tự ngã, một sự an lạc nội tâm không bao giờ có thể bị lay chuyển. Những người đạt tới cảnh giới này được hưởng trạng thái an lạc tâm thần. Có vô số những tên gọi dành cho trạng thái như vậy, được căn cứ vào một trong những giai đoạn của một tổng thể có nhiều mặt, như Giải Thoát, Nơi An Trú, Sự Chấm Dứt Tham Dục, Cảnh Giới Thanh Tịnh, Cảnh Giới Tối Thượng, Cảnh Giới Siêu Việt, Vĩnh Hằng, Ra Khỏi, Không Lay Chuyển, Bất Khả Hủy Diệt, Thực Phẩm Tuyệt Hảo, v.v. Tuy nhiên, có một từ ngữ đã quen thuộc để chỉ cảnh giới đó; từ ngữ đó là “Niết Bàn” (Nibbana hay Nirvana), là “đi ra khỏi,” nghĩa là cái tâm đi ra khỏi ba ngọn lửa tham, sân, si.
     Tham, sân, si được gọi là “ba ngọn lửa,” sự dập tắt chúng dẫn tới cảnh giới của bậc A-La-Hán, là người đã đạt tới Niết Bàn. Vì nghĩa đen của chữ Niết Bàn là “đi ra khỏi” hoặc “dập tắt,” cho nên nó có thể khiến cho một số người lầm tưởng rằng chữ này đồng nghĩa với “biến thành hư vô.” Nhưng thật ra Niết Bàn có nghĩa là đời sống cao hơn của người đã thăng hoa lên trên chính mình. Nó có nghĩa là tận diệt ảo tưởng về cái ngã, và do đó tận diệt sự vị kỷ, đó là cảnh giới của giác ngộ hoàn toàn, của cái thiện hoàn hảo, và của an lạc hoàn hảo. Đức Phật so sánh nó với “kinh thành an lạc.” Thật là sai lầm nếu bảo rằng Niết Bàn có tính cách phủ định hay xác định. Những ý tưởng về “phủ định” hay “xác định” chỉ là tương đối, và thuộc lãnh vực của thực tế. Không thể áp dụng những từ ngữ đó cho Niết Bàn, Chân Lý Tuyệt Đối, là thứ siêu việt lên trên những phạm trù nhị nguyên và tương đối.
     Trong cuốn sách này, Ngài Narada Maha Thera, một học giả Phật giáo uyên bác, tác giả của nhiều sách Phật học, và cũng là một nhà truyền bá Phật giáo nổi tiếng, đã hiến cho chúng ta một số ý tưởng quí giá và giới thiệu cho chúng ta phương pháp để thực hành, như đã được Đức Phật truyền giảng, để đạt được an lạc và hạnh phúc vĩnh hằng. Bằng cách theo đuổi phương pháp này, chúng ta có thể chắc chắn đạt tới mục tiêu tối hậu hoặc mục đích cao cả của cuộc đời để chấm dứt toàn bộ khổ đau của đời sống.
     Xin thành tâm cảm tạ Ngài Narada Maha Thera đã đóng góp những bài hết sức giá trị cho cuốn sách và cảm tạ nữ cư sĩ Gladys Loke Chua đã có hảo tâm hiến tặng phí tổn ấn tống cho cuốn sách này để tưởng nhớ người chồng yêu quí đã khuất, cố cư sĩ Bác Sĩ Chua Sin Kah.


XIN CẦU NGUYỆN TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐẠT ĐƯỢC AN LẠC VÀ HẠNH PHÚC.
K. Dhammananda
Chùa Phật Giáo
Jalan Berhala
Kuala Lumpur
Malaysia

  tiếp      



      Giới Thiệu Tác Phẩm:     

Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi



Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
Phậ­t Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21


Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.