Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
Đã Phát Hành:

 Phủ Định Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán
 Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi
 Giọt Sương Huyễn Hóa
 Pháp Tu Quán Âm
 Trung Luận
 Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại
 Lược Sử Thời Gian
 Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung
 Bước vào Thiền Cảnh
 Đại Cương Triết Học Trung Quán
 Đại Tạng Kinh Nhập Môn
 Cẩm Nang Nhân Sanh
 Thập Nhị Môn Luận
 Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21
 Con đưòng dẫn đến hạnh phúc đích thực
 Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo

CON ĐƯỜNG DẨN ĐẾN HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC
NIẾT BÀN LÀ GÌ

NIẾT BÀN CÓ PHẢI LÀ HƯ VÔ KHÔNG?

     Nếu nói rằng Niết Bàn là hư vô chỉ vì một con người bình thường không thể nhận thức được nó qua năm giác quan thì cũng phi lý như khi nói rằng ánh sáng không hiện hữu vì người mù không trông thấy nó. Trong một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng, một con cá suốt đời chỉ sống dưới nước lý luận một cách đầy tự tin với một con rùa rằng chẳng có mặt đất, bởi vì con rùa chỉ trả lời toàn là “Không” cho những câu hỏi của con cá.
     Đời xưa có một con cá. Vì là loài cá cho nên nó sống suốt đời dưới nước và chẳng biết cái gì khác hơn là nước. Một hôm đang bơi trong cái ao thân thuộc, con cá gặp một con rùa quen biết với nó, và con rùa này vừa trở về cái ao sau một chuyến đi chơi trên mặt đất.
     Con cá lên tiếng: “Chào ông bạn Rùa, bạn đi đâu mà lâu lắm bây giờ tôi mới gặp lại?”
     Con rùa trả lời: “Ô, tôi vừa mới đi một chuyến du lịch trên mặt đất khô.”
     Con cá nói: “Trên mặt đất khô? Bạn nói 'trên mặt đất khô' là có nghĩa gì? Làm gì có mặt đất khô. Tôi chưa bao giờ thấy mặt đất khô. Mặt đất khô chẳng là gì cả.”
     Con rùa nói một cách tử tế: “Ô, nếu bạn muốn tin như vậy thì dĩ nhiên là bạn có quyền, không ai ngăn cấm bạn. Nhưng sự thật là tôi đã trở về đây từ mặt đất.”
     Con cá nói: “Dù sao, tôi mong bạn hãy cố gắng nói chuyện một cách hợp lý. Hãy cho tôi biết mặt đất của bạn giống như thế nào? Nó có ướt không?
     Con rùa trả lời: “Không, nó không ướt.”
     Con cá hỏi tiếp: “Nó có mát mẻ và lạnh không?”
     Con rùa trả lời: “Không, nó không mát mẻ và lạnh.”
     “Nó có trong suốt tới độ ánh sáng có thể rọi qua không?”
     “Không, nó không trong suốt và ánh sáng không thể rọi qua được.”
     “Nó có phải là chất lỏng để tôi có thể bơi lội trong đó không?”
     “Không, nó không phải là chất lỏng. Bạn không thể bơi lội ở trong đất.”
     “Nó có trôi chảy trong những cái dòng không?”
     “Không, nó không trôi chảy trong những cái dòng.”
     Sau khi nghe con rùa liên tiếp trả lời “không,” con cá bồn chồn hỏi thêm một câu: “Nó có dâng lên thành những đợt sóng với bọt trắng không?”
     Con rùa lại trả lời một cách trung thực: “Không! Tôi chưa bao giờ thấy nó dâng lên thành những đợt sóng.”
     Tới đây con cá tỏ vẻ chiến thắng và nói: “Thấy chưa! Tôi đã bảo bạn rằng cái mặt đất khô đó của bạn chỉ là hư không. Tôi vừa mới hỏi bạn và bạn trả lời tôi rằng nó không ướt, cũng không lạnh, không trong suốt, không lỏng, không trôi chẩy trong dòng, và không dâng lên những đợt sóng. Nếu nó chẳng phải là cái gì trong số những điều vừa kể thì nó là gì khác hơn là hư không? Bạn đừng cãi nữa!”
     Con rùa nói: “Thôi, thôi! Nếu bạn cứ nhất quyết nghĩ rằng mặt đất là hư không thì tôi thấy rằng bạn cứ việc nghĩ như vậy. Nhưng bất cứ ai biết nước là gì và đất là gì thì họ sẽ bảo rằng bạn chỉ là một con cá khờ khạo; bởi vì bạn nghĩ rằng bất cứ cái gì mà bạn chưa hề biết thì nó chỉ là hư không, chỉ vì bạn chưa bao giờ biết nó.”
     Sau khi nói như vậy con rùa quay đi và bỏ lại con cá trong cái ao tù nhỏ bé của nó; rồi con rùa khởi hành một chuyến đi lần nữa trên đất liền, là thứ “hư không” đối với con cá.
     Truyện ngụ ngôn đầy ý nghĩa trên đây cho chúng ta thấy rõ rằng dù con rùa đã biết rõ về cả mặt đất lẫn dưới nước, nhưng nó vẫn không thể nào giải thích với con cá về bản chất của mặt đất; và con cá cũng không thể nào hiểu được mặt đất là gì, bởi vì suốt đời nó chỉ sống ở dưới nước. Cũng giống như vậy, các vị A-La-Hán - biết rõ cả cảnh giới thế gian lẫn cảnh giới xuất thế gian - không thể giải thích cho một con người thế tục biết cảnh giới siêu thế tục là gì, bằng những ngôn từ thế tục; và con người thế tục cũng không thể hiểu được cảnh giới xuất thế gian bằng kiến thức thế tục.
     Khi Đức Phật nói về những giai tầng khác nhau của sự sanh tồn ngài đặc biết nhắc tới một “Cảnh Giới Vượt Ngoài Mọi Cảnh Giới” (Akincannayatana).
     Khi mà Niết Bàn đã từng được chứng ngộ như là một trong những đối tượng tâm thức thì nhất thiết có nghĩa rằng nó chẳng phải là một cảnh giới hư vô. Nếu nó là hư vô thì Đức Phật đã chẳng mô tả trạng thái của nó như là “Vô Biên” (Ananta), “Vô Điều Kiện” (Asamkhata), “Bất Khả So Sánh” (Anupameya), “Vô Thượng” (Anuttara), “Tối Cao” (Para), “Siêu Việt” (Para), “Nơi An Trú Tối Thượng” (Parayana), “An Toàn” (Tana), “An Ninh” (Khema), “Hạnh Phúc” (Siva), “Duy Nhất” (Kevala), “Vô Trú Sở” (Analaya), “Bất Khả Hoại” (Akkhara), “Tuyệt Đối Thanh Tịnh” (Visuddha), “Siêu Xuất Thế Gian” (Lokuttara), “Bất Tử” (Amata), “Giải Thoát” (Mutti), “An Lạc” (Santi), v.v.
     Trong các kinh sách Udana và Itivutttaka Đức Phật nói tới Niết Bàn như sau:
     “Này các Tì-Kheo, có một cảnh giới vô sanh, vô phát khởi, vô tạo tác, vô duyên khởi. Nếu không có cảnh giới vô sanh, vô phát khởi, vô tạo tác, vô duyên khởi này thì sự giải thoát của những cái hữu sanh, hữu phát khởi, hữu tạo tác, hữu duyên khởi không thể thực hiện được. Vì có cảnh giới vô sanh, vô phát khởi, vô tạo tác, vô duyên khởi, cho nên mới có giải thoát cho những cái hữu sanh, hữu phát khởi, hữu tạo tác, hữu duyên khởi.”
     Kinh Itivutttaka d?y:
     “Cái gì sanh ra, trở thành, do sản xuất, do kết hợp, cấu tạo,
     Thì không thường hằng, mà phải trải qua sanh và tử,
     Là một tập hợp gồm những ô nhiểm, vô thường.
     Là cái được thực phẩm nuôi dưỡng để sống,
     Là thứ không thích đáng để coi là lạc thú.
     Sự giải thoát ra khỏi cái đó là chân như,
     Vượt khỏi lãnh vực của lý trí,
     Là cái thường hằng, vô sanh vô sản,
     Vô phiền não, là con đường thanh khiết
     Dẫn tới sự đoạn diệt những ô trược,
     Đoạn trừ phiền não, dẫn tới an lạc.”

     Vì vậy, Niết Bàn của Phật giáo chẳng phải là trạng thái hư vô cũng không phải chỉ là sự đoạn diệt. Người ta có thể xác quyết Niết Bàn không phải là những gì. Nhưng người ta không thể mô tả Niết Bàn một cách chính xác bằng ngôn từ thế tục, vì nó không giống thứ gì trên thế gian. Người ta phải tự chứng ngộ Niết Bàn.
     Niết Bàn như là Sopadisesa và Anupadisesa Nibbana Dhatu
     Trong các kinh sách thường nói về Niết Bàn như là Sopahdisesa (hữu dư y niết bàn)và Anupadisesa Nibbana Dhatu (vô dư y niết bàn).
     Đây chẳng phải là hai loại Niết Bàn mà chỉ là một Niết Bàn duy nhất được gọi tên tùy theo kinh nghiệm về nó trước hay sau khi chết.
     Niết Bàn có thể đạt tới trong kiếp hiện tại nếu người tìm kiếm thích hợp với nó. Trong Phật giáo không có chỗ nào bảo rằng mục tiêu tối hậu của nó chỉ có thể đạt tới trong một đời khác. Đây là điểm khác biệt giữa ý niệm của Phật giáo về Niết Bàn và ý niệm của các tôn giáo khác về một cõi thiên đàng vĩnh hằng chỉ có thể đạt tới sau khi chết.
     Khi Niết Bàn được chứng ngộ ngay trong nhục thân, khi còn sống, nó được gọi là Sopahdisesa Nibbana Dhatu (hữu dư y). Khi một vị A-La-Hán đạt tới trạng thái Parinibbana (Nhập Niết Bàn) sau khi nhục thân đã tan đi, không còn lại bất cứ sự tồn tại vật chất nào, thì nó được gọi là Anapadisesa Nibbana Dhatu (vô dư y).
     Trong kinh Itivuttaka (Như Thị Thuyết Kinh), Đức Phật dạy:
     “Này các Tì-Kheo, có hai yếu tố của Niết Bàn. Khi một Tì-Kheo trở thành A-La-Hán, là bậc đã hủy diệt những ô trược, đã sống hết đời mình, đã làm những gì phải làm, đã bỏ gánh nặng, đã đạt tới mục tiêu của mình, đã phá hủy những xiềng xích của cuộc sanh tồn, đã giác ngộ, đã giải thoát. Năm giác quan của vị đó vẫn còn tồn tại, và vì họ chưa thoát ra khỏi chúng cho nên họ trải qua những kinh nghiệm thích thú và không thích thú. Sự hủy diệt của tham, sân và si của người đó được gọi là 'Yếu Tố Niết Bàn khi vẫn còn căn bản.'
     “Này các Tì-Kheo, vậy thì 'Yếu Tố của Niết Bàn khi không còn căn bản' là gì?
     “Này các Tì-Kheo, một Tì-Kheo trở thành bậc A-La-Hán là đã giải thoát. Ngay trong chính đời này, tất cả những cảm giác của người đó sẽ không còn là lạc thú gì nữa, chúng sẽ trở thành lạnh nhạt. Điều này gọi là 'Yếu Tố Niết Bàn không còn căn bản.'
     “Hai cảnh giới Niết Bàn này được cho thấy
     Bởi người đã trông thấy, người không còn tham ái.
     Một cảnh giới đạt tới trong chính đời này
     Với cội gốc vẫn còn, tuy rằng đã bị cắt đứt.
     Trong khi cảnh giới không còn cội gốc
     Thuộc về tương lai, nơi không còn
     Bất cứ cái gì sẽ trở thành.
     Những người khi biết cảnh giới thanh tịnh này
     Tìm giải thoát bằng cách cắt đứt dòng luân lưu.
     Những người đã đạt tới cốt lõi của Đạo Pháp
     Sẵn lòng chấm dứt - không còn trở thành cái gì nữa.”

  tiếp      



      Giới Thiệu Tác Phẩm:     

Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
PHẬT GIÁO và PHÂN TÂM HỌC



Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
PHẬT GIÁO và THIÊN NHIÊN


Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.