Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
Đã Phát Hành:

 Phủ Định Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán
 Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi
 Giọt Sương Huyễn Hóa
 Pháp Tu Quán Âm
 Trung Luận
 Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại
 Lược Sử Thời Gian
 Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung
 Bước vào Thiền Cảnh
 Đại Cương Triết Học Trung Quán
 Đại Tạng Kinh Nhập Môn
 Cẩm Nang Nhân Sanh
 Thập Nhị Môn Luận
 Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21
 Con đưòng dẫn đến hạnh phúc đích thực
 Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo

CON ĐƯỜNG DẨN ĐẾN HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC
NIẾT BÀN LÀ GÌ

Những Đặc Tính của Niết Bàn

     “Niết Bàn là gì hả bạn? Sự hủy diệt tham, sự hủy diệt sân, sự hủy diệt si, được gọi là Niết Bàn đấy bạn ạ.” - Kinh Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ Kinh)
     Trái với cõi luân hồi sanh tử (samsara), Niết Bàn là thường hằng (dhuva), là đáng mưu cầu (subha), và an lạc (sukha).
     Theo Phật giáo, mọi thứ dù là tại thế gian hay siêu thế gian, đều được xếp thành hai loại: Những gì thuộc điều kiện của nhân duyên (samkhata) và những gì không thuộc điều kiện của bất cứ nhân duyên nào (asamkhata).
     Ba đặc tính trên đây là những đặc điểm của tất cả những gì lệ thuộc vào những điều kiện (Samkhatalakkhanami): sanh khởi (uppada), diệt (vaya) và biến đổi trạng thái (thisassa annathattam).
     Sanh khởi, hoặc trở thành, là đặc tính thiết yếu của mọi thứ gì chịu điều kiện của một nhân hoặc nhiều nhân. Và cái gì có sanh khởi hoặc trở thành thì ắt phải thay đổi và có lúc tan rã. Mọi thứ gì phải chịu điều kiện thì luôn luôn biến đổi không ngừng. Định luật biến đổi là điều phổ quát trong vũ trụ, áp dụng đối với mọi sự vật - cả tinh thần lẫn vật chất - từ con vi trùng hoặc một phân tử nhỏ bé nhất cho tới một sinh vật cao nhất hoặc một vật thể to lớn nhất. Tâm trí, tuy người ta không thể nhận ra nó, thay đổi nhanh hơn là vật chất.
     Niết Bàn - cảnh giới siêu xuất thế gian mà các vị Phật và A-La-Hán chứng ngộ - không lệ thuộc vào bất cứ nguyên nhân nào. Vì vậy nó không phải trải qua bất cứ sự trở thành, sự thay đổi và hủy hoại nào. Nó là bất sanh (ajata), bất hoại (ajara), và bất tử (amara). Niết Bàn chẳng phải là nhân cũng không phải là quả. Vì vậy nó là độc nhất vô nhị (kevala).
     Mọi thứ gì sanh khởi từ một nguyên nhân thì ắt sẽ có ngày tàn lụi, vì vậy nó không đáng để mưu cầu (asubha).
     Đời sống là thứ gì trân quí nhất của con người, nhưng khi con người phải đối phó với những khó khăn không thể vượt qua và những gánh nặng không thể chịu đựng nổi, lúc đó chính cuộc đời quí báu này trở thành một gánh nặng không kham nổi. Vì vậy, có những người tìm cách cất bỏ gánh nặng đó bằng cách tự sát để chấm dứt cuộc đời mình, họ tưởng rằng hành động đó sẽ hóa giải tất cả những vấn đề cá nhân của họ.
     Thân xác con người thường được trang điểm và yêu chuộng. Nhưng những hình thái dễ thương, đáng yêu chuộng và lôi cuốn này, khi biến đổi hình dạng vì thời gian và bệnh hoạn, sẽ trở thành vô cùng ô trược.
     Con người muốn được sống bình an và hạnh phúc với những người thân của họ, xung quanh có những thú vui và giải trí, nhưng nếu gặp phải thời vận xấu, khi thế giới ác độc này đi ngược lại những tham vọng và dục vọng của họ, thì nhất định là không tránh khỏi đau khổ.
     Câu chuyện ngụ ngôn sau đây cho thấy bản chất phù du của cuộc đời và những lạc thú:
     Một người cố gắng tự mở lối đi cho mình qua một khu rừng đầy gai góc và đá tảng. Bỗng người đó hoảng hốt khi thấy một con voi xông tới rượt đuổi. Ông co giò chạy và trông thấy một cái giếng, ông bèn chui xuống giếng để trốn. Nhưng ông lại một phen kinh hoảng khi thấy một con rắn độc ở dưới đáy giếng. Tuy nhiên, chẳng còn lối thoát nào khác, người đó nhẩy xuống giếng và bám vào một cái cây leo mọc trong giếng. Khi nhìn lên, ông thấy hai con chuột nhắt - một trắng và một đen - đang gặm cái cây leo. Trước mặt ông có một cái tổ ong thỉnh thoảng nhểu ra một giọt mật. Người đó nếm những giọt mật ong một cách ham hố và chẳng còn bận tâm về tình trạng nguy ngập của mình.
     Rồi có một người nhân từ xuất hiện và tình nguyện chỉ dẫn cho người lâm nạn biết con đường thoát hiểm. Nhưng con người phàm phu tham ăn đó bảo rằng hãy để cho ông ta ở lại để hưởng những giọt mật.
     Trong câu chuyện ngụ ngôn trên đây: Khu rừng gai góc là cõi Ta-Bà (Samsara) của vòng luân hồi sanh tử. Cõi thế gian này đầy dẫy những khó khăn và chướng ngại phải vượt qua, nhiều kẻ thù nghịch và bất công, phải đối phó với những hãm hại và những lời nói xấu. Đó là con đường gai góc của cuộc đời.
     Con voi trong câu chuyện tượng trưng cho cái chết; con rắn độc là tuổi già; sợi dây leo là sự sanh ra đời; hai con chuột nhắt là ngày và đêm. Những giọt mật ong giống như những khoái lạc thoáng qua trong cuộc đời. Người nhân từ chỉ dẫn con đường thoát hiểm là Đức Phật.
     Cái gọi là hạnh phúc do vật chất đem lại chỉ là sự thỏa mãn một số dục vọng. Khi người đời đạt được một vật mà họ ham muốn thì họ lại có thêm một ham muốn khác. Sự khao khát của họ không bao giờ dứt.
     Buồn khổ luôn luôn xẩy ra trong cõi đời và con người không thể tránh né nó. Vì Niết Bàn là vô nhân duyên cho nên nó là thường hằng (dhuva), đáng mưu cầu (subha); nó không giống hạnh phúc trần tục giả tạm đến với con người do sự thỏa mãn một số ham muốn (vedayita).
     Trong kinh Bahuvedaniya Sutta, (Đa Văn Bộ ?) Đức Phật liệt kê 10 đẳng cấp của hạnh phúc, bắt đầu là những dục lạc vật chất thô sơ do kết quả của sự kích động các giác quan. Khi con người tiến lên cao hơn nữa trên những giai tầng tinh thần, thì các loại hạnh phúc của họ cũng thăng hoa, cao thượng, và tinh tế hơn, đến nỗi đa số người đời khó nhận ra rằng đó là hạnh phúc. Trong Thiền cảnh (Jhana) thứ nhất, người tu tập trải qua loại hạnh phúc siêu việt (sukkha), hoàn toàn không lệ thuộc vào năm giác quan. Thứ hạnh phúc này đạt được bằng cách kiềm chế sự khao khát những khoái cảm của các giác quan mà những người ham hưởng thụ vật chất rất coi trọng. Tuy nhiên, khi đạt tới Thiền cảnh thứ tư thì người tu tập cũng xa lánh ngay cả thứ hạnh phúc này vì coi rằng nó chưa xứng đáng, và sự thanh tịnh (upekkha) được coi là hạnh phúc.
     Đức Phật dạy: “Này, A-Nan-Đa, có năm ràng buộc giác quan. Đó là những hình thái mà mắt tri nhận - đáng ưa thích, đáng yêu, quyến rũ, si mê, đi cùng với sự khao khát, và khơi dậy những bụi bậm của đam mê; âm thanh do tai tri nhận; mùi hương do mũi tri nhận; vị ngon do lưỡi tri nhận; xúc giác do thân thể tri nhận. Này, A-Nan-Đa, những thứ đó là năm ràng buộc giác quan. Bất cứ thứ hạnh phúc hoặc khoái cảm nào khơi dậy từ những ràng buộc giác quan đều được coi là thứ hạnh phúc của cảm giác.
     “Nếu ai nói 'Đây là thứ hạnh phúc và lạc thú cao nhất mà chúng sanh có thể trải qua' thì ta bác bỏ. Tại sao? Bởi vì có loại hạnh phúc khác thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Thứ hạnh phúc khác thăng hoa và siêu việt hơn đó là gì? Khi một Tì-Kheo sống hoàn toàn xa lánh những ham muốn thuộc cảm giác, xa lìa những gì trái đạo đức, sống ẩn dật trong an lạc và hạnh phúc, an trú trong Thiền Cảnh Thứ Nhất (Pathama Jhana). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Nhưng nếu ai nói 'Đây là thứ hạnh phúc và lạc thú cao nhất mà chúng sanh có thể trải qua' thì ta bác bỏ. Tại sao? Bởi vì có loại hạnh phúc khác thăng hoa và siêu việt hơn nữa.
     “Khi một Tì-Kheo đã đạt tới thanh tịnh nội tâm, không còn phải chế ngự tâm trí, nhờ kết quả của sự thanh tịnh an lạc đó, sống trong niềm vui và hạnh phúc của Thiền Cảnh Thứ Nhì (Dutiya Jhana). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Nhưng nếu ai nói 'Đây là thứ hạnh phúc và lạc thú cao nhất mà chúng sanh có thể trải qua' thì ta bác bỏ. Tại sao? Bởi vì có loại hạnh phúc khác thăng hoa hơn nữa.
     “Khi một Tì-Kheo không còn ham muốn niềm vui, người đó an trú trong ý thức thanh tịnh, tỉnh thức, và thân xác trải qua điều mà bậc hiền giả Ariya nói là 'An trú trong cực lạc nhờ sự thanh tịnh và tỉnh thức.' Vậy là người đó an trú trong Thiền Cảnh Thứ Ba (Tatiya Jhana). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Tuy vậy, nếu ai nói 'Đây là thứ hạnh phúc và lạc thú cao nhất mà chúng sanh có thể trải qua' thì ta bác bỏ. Tại sao? Bởi vì có loại hạnh phúc khác thăng hoa hơn nữa.
     “Khi một Tì-Kheo xa lìa lạc thú và đớn đau, bỏ lại đằng sau cả những niềm vui lẫn phiền trược ngày trước - tuyệt nhiên không còn đau đớn, khoái cảm, trở thành hoàn toàn thanh tịnh và tỉnh thức - thì người đó an trú trong Thiền Cảnh Thứ Tư (Catuttha Jhana). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Tuy nhiên, nếu ai nói đây là hạnh phúc cao nhất thì ta bác bỏ. Còn có thứ hạnh phúc siêu việt hơn.
     “Khi một Tì-Kheo hoàn toàn vượt xa hơn tri thức về sắc tướng, đã đoạn diệt những phản ứng giác quan, không còn lưu ý gì tới các loại tri nhận cảm giác, lúc đó họ nghĩ: 'Không Gian là Vô Tận' (khơng vơ bieên x?)và họ an trú trong Cảnh Giới Không Gian Vô Tận (Akasanancayatana - Không Vô Biên Xứ). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Tuy nhiên, nếu ai nói đây là hạnh phúc cao nhất thì ta bác bỏ. Còn có thứ hạnh phúc siêu việt hơn.
     Khi một Tì-Kheo hoàn toàn siêu việt khỏi cảnh giới Không Gian Vô Tận nghĩ: 'Ý Thức là Vô Tận (Thức Vô Biên Xứ)' và sống an trú trong Cảnh Giới Ý Thức Vô Tận (Vinnanancayatana). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Tuy nhiên, nếu ai nói đây là hạnh phúc cao nhất thì ta bác bỏ. Còn có thứ hạnh phúc siêu việt hơn.
     “Khi một Tì-Kheo siêu việt khỏi Cảnh Giới Ý Thức Vô Tận nghĩ: 'Không có bất cứ cái gì là thực' người đó được sống an trú trong Cảnh Giới Vượt Ngoài Mọi Cảnh Giới - Không có thổ ngơi (Akincannayatana - Vô Sở Hữu Xứ). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Tuy nhiên, nếu ai nói đây là hạnh phúc cao nhất thì ta bác bỏ. Còn có thứ hạnh phúc siêu việt hơn.
     “Khi một Tì-Kheo hoàn toàn siêu việt khỏi Cảnh Giới Vô Sở Hữu Xứ, người đó sống an trú trong Cảnh Giới Không Phải Là Có Tri Thức Cũng Không Phải Là Vô Tri Thức ( Phi t??ng phi phi t??ng x?) (N'eva sanna N'asanna, yatana). Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Tuy nhiên, nếu ai nói 'Đây là thứ hạnh phúc và lạc thú cao nhất mà chúng sanh có thể trải qua' thì ta bác bỏ. Tại sao? Bởi vì có loại hạnh phúc khác thăng hoa và siêu việt hơn nữa.
     “Thứ hạnh phúc khác đó là gì? Là khi một Tì-Kheo hoàn toàn siêu việt khỏi Cảnh Giới Không Phải Là Có Tri Thức Cũng Không Phải Là Vô Tri Thức và đạt tới sự Đoạn Diệt Tri Thức và Cảm Quan (Sammavedayita - Nirodha). Này A-Nan-Đa, Đây là thứ hạnh phúc thăng hoa và siêu việt hơn.
     “Trong số tất cả mười đẳng cấp hạnh phúc thì đây là loại cao nhất và siêu việt nhất. Cảnh giới siêu việt này là Nirodha Samapatti, đó là trải qua Niết Bàn ngay trong chính cuộc đời này.”
     Như chính Đức Phật đã tiên liệu, người ta có thể hỏi: “Làm sao mà trạng thái đó có thể được gọi là hạnh phúc cao nhất trong khi không có ý thức để kinh nghiệm về nó?”
     Đức Phật trả lời: “Này, các đệ tử, Như Lai không tri nhận cực lạc nhờ cảm giác thích thú. Bất cứ nơi nào có cực lạc thì chỉ người nào đã đạt tới nó mới có thể nhận ra nó.”
     Đức Phật dạy thêm: “Ta bảo rằng mọi điều gì mà cảm quan trải qua đều là phiền não. Tại sao? Bởi vì khi đau buồn thì người ta mong có hạnh phúc, và người được coi là hạnh phúc thì họ vẫn còn muốn được hạnh phúc hơn nữa. Vì vậy không thể nào làm thỏa mãn được hạnh phúc trần tục.”
     Khi dùng ngôn từ thông thường, Đức Phật nói: “Niết Bàn là cực lạc cao nhất - Nibbanam paranam sukham." Nó là cực lạc tối cao vì nó không phải là loại hạnh phúc được hưởng từ giác quan. Nó là trạng thái hoan lạc nhờ đoạn trừ được tất cả những cái xấu của thế gian và cuộc đời.
     Sự đoạn diệt đau khổ chính là hạnh phúc, nói theo từ ngữ thông thường, tuy rằng đây không phải là một từ ngữ đích đáng để mô tả thực tướng của nó.

  tiếp      



      Giới Thiệu Tác Phẩm:     

Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
PHẬT GIÁO và THIÊN NHIÊN



Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
Lược Sử Thời Gian


Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.