Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
 
ENGLISH  | Trang Chủ | Truyền Hình | Pháp Âm | Thư Viện  | Tin Tức Phật Giáo  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Liệu  | Kết Trang

PHẬT HỌC CƯƠNG YẾU
HT. THÍCH KẾ CHÂU


Lời nói đầu
Phật-học là một môn học rất huyền-vi, rộng lớn, có nhiều lý-nghĩa sâu-sắc, nhiều danh từ mới lạ, làm cho những kẻ sơ-học khó bề tham-cứu, đến nỗi nhiều người thấy khó quá mà sanh lòng chán-nản.

Chúng tôi cũng nhận biết như vậy, nân cũng thường phương-tiện tùy-duyên bàn những lẽ rất khó bàn, nói những điều không thể nói, trông mong các đọc-giả nhận được đại-khái của Phật-học để dễ nghiên-cứu về tương-lai.

Chúng tôi vừa xem lại bài giảng về Phật-Học Cương-yếu của ngôi Thái-Hư, nhận thấy phương-tiện rất hợp thời-cơ, ngặt vì lời lẽ khúc mắt, e dịch thẳng thì các hàng sơ-cơ khó hiểu nên chúng tôi sau đây chỉ thuật lại ý nghĩa trong bài ấy, không câu-nệ văn-tự, để cho toàn-thể đọc-giả được phần lợi ích.

A. THẾ NÀO LÀ PHẬT HỌC?
- Phật là một tiếng nói tắt, muốn nói cho đủ thì phải nói Phật-Đà (tiếng Quảng-đông đọc là Phù-thò, tiếng quan-thoại đọc là (Bụt-đà) tức là tiếng dịch âm của chữ Phạn Bouddha, nghĩa là bậc giác-ngộ. Cũng như trong thế-gian gọi những người nhiều học-thức là bậc học thức các bậc giác-ngộ hoàn-toàn cùng-khắp thì gọi là bậc-giác-ngộ. Bậc-giác-ngộ tức là những vị hiện đã chứng được phẩm tối cao của loài người và tất cả các loài.

Các bậc hiền-triết xưa có câu: “Nhân thân tiểu thiên địa” thật rất đúng đắn. Theo thuyết vũ-trụ đối đãi của khoa-học, cũng như theo nghĩa “pháp giới trùng trùng duyên khỉ” trong kinh Hoa-Nghiêm, người là một vũ trụ nhỏ, đối với toàn-thể vũ-trụ không hai không khác, nên duy những bậc hoàn toàn giác ngộ, lấy toàn thể vũ-trụ làm bản thân, mới đạt đến giá trị tối cao của nhân-sanh, ý nghĩa tối cao của nhân-sanh. Vậy loài người muốn thực hiện phẩm cách tối cao của mình thì tất nhiên phải đến chỗ giác-ngộ hoàn toàn như Phật.

Phật là bậc mô-phạm tối cao, người tin theo Phật cốt để nhận rõ cách làm người, để bước tới những địa-vị siêu-nhân cho đến để được hoàn toàn giác ngộ. Vậy tin theo Phật quyết định không có chút gì là mê-tín, mà lại còn phải phá trừ mê-lầm tột gốc để được giác-ngộ hoàn toàn.

Vả chăng Phật chưa hề nói: “duy một mình ta là Phật, các người cứ nhắm mắt theo ta” Phật chỉ dạy: “Phàm có tâm linh hay biết, đều có thể thành Phật, miễn biết tu theo những phương-pháp thích hợp đúng với sự thật”.

Vậy Phật-học là Phật-pháp, là học làm Phật. Chuẩn đích của Phât-học là ai ai đều có thể thành Phật, nên rất bình đẳng (bình-đẳng đây chẳng phải là người nào cũng bằng nhau cả đâu, bình-đẳng nghĩa là hễ có nhân là có quả, tạo nhân làm người thì được quả làm người, tạo nhân làm trời thì được quả làm trời, tạo nhân làm Phật thì được quả Phật, cân bằng chắc-chắm không hề sai chạy).

Phật-pháp nghĩa là phương-pháp tu-hành thành Phật, không phải là tôn-giáo mà cũng không phải là triết-học, nhưng có thể bao-trùm tất cả tôn-giáo, triết học và vượt trên tất cả tôn-giáo, triết-học.

Phật-pháp tuy nó những lý-luận siêu-việt như triết-học, nhưng vẫn xem rẻ lý-tưởng và chú trọng thật nghiệm. Phật-pháp tuy có những sự cung kính cúng-dường như các tôn-giáo, những tín đồ đều có thể tu chứng lần đến bậc giác-ngộ hoàn toàn như Phật nên khác với các tôn-giáo.

A). Nguyên lý.- Nguyên lý của Phật-học, nếu muốn nêu một chủ-nghĩa thì phải gọi là chủ nghĩa hiện-thật. Hết thảy sự vật trong vũ-trụ hiển hiện như vậy thì gọi là hiện, sự thật của sự vật hiện đương tồn-tại đó thì gọi là hiện thật. Chủ-nghĩa hiện thật là chính nơi sự thật hiện tại của sự-sự vật-vật là như vậy thì liền nhận là như vậy, không lầm nhận thành điều khác.

Mục đích của Phật-học là hoàn toàn giác-ngộ, sáng soi toàn thể vũ-trụ rõ-rõ ràng-ràng, nhận rỏ thật-tướng, tức là nhận rõ bản lai diện mục của vũ-trụ. Cái bản lai diện mục ấy, trong kinh Phật dạy là: Pháp Nhĩ Như Thị.

Nói cho đúng thì chủ-nghĩa hiện tại của Phật-học cũng có thể goi là cái chủ-nghĩa không chủ-nghĩa. Vì sao? Vì các học vấn trong thế-gian toàn đã thêm vào những tư kiến và chủ quan của cá nhân không nhận đến cái “công bằng không riêng” của vũ-trụ, nên gọi là có chủ-nghĩa, còn chủ-nghĩa hiện thật của Phật-học là trực nhận sự thật bản lai như vậy, không có chủ quan, không có tư kiến nên cũng có thể gọi là cái “chủ-nghĩa không chủ-nghĩa”.

Nói tóm lại, Phật đã chứng rõ cái sự thật bản lai như vậy, lại dùng những lời nhiệm mầu khôn khéo, chỉ dạy cái hiện thật ấy cho chúng-sanh nên gọi là hiện thật chủ-nghĩa. Hoặc vì theo Phật-pháp mà chỉ rõ chân-tướng của vũ-trụ nên gọi là hiện thật chủ-nghĩa.

Giảng về hiện thật chủ-nghĩa có thể chia ra làm 4 đoạn:
1/ Hiện hành thật sự
2/ Hiện sự thật tánh
3/ Hiện lượng thật tướng
4/ Hiện biến thật lực

1.- HIỆN HÀNH THẬT SỰ.- Hiện hành thật sự tức là những sự thật có, như là hiện có thế-giới, hiện có nhân-loại, hiện có muôn vật. Thật sự mà gọi là hiện hành mà là vì hiện tiền sự vật không có vật gì là không lưu hành biến hóa, không có vật gì chắc định không thay đổi. Trong vũ-trụ hết thảy mọi sự mọi vật, lớn như một thế-giới nhỏ như một vi-trần, điều lưu hành biến hóa nên điều gọi là Hiện-hành sự thật. Thân người có sanh, có chết, mọi vật có thành, có hoại, cho đến quả địa-cầu cũng phải bao nhiêu triệu năm mới thành, rồi đến bao nhiêu triệu năm lại phải hư nát, đó là một điều rât dễ nhận. Nhưng chỉ nhận được muôn sự muôn vật có sanh là có diệt, có thành là có hoại thì còn chưa nhận được chân tướng, vì thật ra muôn sự muôn vật trong thời thời khắc khắc biến hóa mãi mãi: như một thân người khi trẻ thơ, khi tráng thành, khi già yếu, từ lúc mới sanh cho đến lúc chết, không lúc nào là không thay đổi, hằng ngày biến hóa như một giòng nước. Cái giòng lưu hành biến hóa ấy có thể nói là giòng sanh mạng. Như thân người, tất cả sự vật trong vũ-trụ đều lớn nhỏ thông nhau, từng sát na, từng sát na vẫn lưu chuyển biến hóa mãi mãi. Nghĩa sát na sanh diệt ấy rất thích hợp với khoa-học hiện thời, vì khoa-học đã nhận biết sự vật trong vũ-trụ toàn do các nguyên-tử gồm các điễn-tử âm dương thường lưu chuyển biến hóa mãi. Song khoa-học chỉ căn cứ nơi cảm giác ngũ quan, nên tuy có chỗ ám hợp, nhưng không thể trực tiếp nhận biết được ý nghĩa sát na sanh diệt như Phật-học, tức là nhận được hiện hành thật sự.

Nhận được hiện hành thật sự thì biết sanh mạng loài người không phải sau khi thân nầy sanh ra mới có. Sanh mạng ấy là một giòng chuyển biến vô thỉ vô chung, còn đời người chỉ là một đoạn hiện ra trong giòng danh mạng, cũng như một khúc của sông trường-giang, một đời sống chết chẳng qua là một thứ giả tướng hiện ra trong giòng danh mạng mà thôi. Lại chẳng những sanh mạng mới vậy mà hết thảy sự sự vật vật cũng đều như vậy, trong thời thời khắc khắc vẫn biến hóa mãi mãi, sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, tiếp tục vô cùng vô tận, không hề gián đoạn.

Rõ được đạo lý hiện hành thật sự đã phá được nhiều điều mê lầm. Người đời vì không rõ lý ấy, cảm thấy đời mình trống rỗng, không ý nghĩa, không giá trị, trừ những sự hưởng thụ về vật chất để sống mà chờ chết thì chẳng thấy một việc gì khác nữa nên thường đua nhau làm cho đủ dục vọng đến nỗi dành xé, lấn hiếp nhau, rốt cuộc gây nên những thảm kiếp khốc hoại cho toàn thể nhân-loại.

Lại cũng vì không biết đạo lý ấy mà một hạng người tưởng tượng có Tạo-hóa gây dựng và làm chủ muôn vật, sanh ra các điều mê-tín làm cho bản-tánh có thể giác-ngộ của loài người bị che lấp, không nhận rõ được cái tánh lưu-hành biến hóa không đầu không đuôi của toàn thể vũ-trụ.

Nếu nhận được chân tướng của nhân sanh là vô thỉ vô chung, nhận được chân-tướng của thế-giới là vô thỉ vô chung, tuy in tuồng có sanh, diệt, thành, hoại, nhưng thật ra chỉ lưu-hành không nghỉ, sanhdiệt không dứt mà thôi, thì có thể mở rộng tâm lượng đến vô biên vô tận. Tâm lượng đã mở rộng thì không còn chấp trước và được khế-hiệp với chân-tánh của vũ trụ. Chừng ấy mới biết nhân sanh, thế giới đều là Hiện-hành thật sự trong giòng sanh-mạng vô-thỉ vô-chung và sự thật-hiện không phải ngẫu nhiên: nghiệp quá khứ làm nhân, sự vị-lai làm quả, nhân-quả lớp nầy lớp khác, nối nhau không ngừng, vậy nên mỗi mỗi hành vi của đời người đều có một giá-trị bất-hủ.

Cái đạo lý Hiện-hành Thật-sự theo nhân-quả đó, mọi người đều nên rõ biết, để có thể bớt sanh phiền-não, được nhiều lợi ích. Nhận được Hiện-hành thật sự, tin được giáo lý nhân-quả, người đời có thể thành được người toàn thiện, thành được bậc siêu-nhân thành được các bậc Bồ-tát và lần đến chỗ giác-ngộ hoàn-toàn như Phật. Người biết được đạo lý ấy mới biết được giá trị chắc thật công việc của mình làm, mới có thể sống một đời sống có ý nghĩa, và phát được chí nguyện rộng lớn để tu tập cho đến chỗ hoàn-toàn giác-ngộ.

2.- HIỆN SỰ THẬT TÁNH.- Hiện sự tức là những hiện hành thật sự vừa nói trên kia, thật tánh của các hiện hành thật sự thì gọi là hiện sự thật tánh.

Các hiện hành thật sự, như một thân người hay một cục phấn, tuy in tuồng có cá thể, nhưng xét ra cho kỹ, thật không có tánh cách nhất định và cũng không có tánh cách độc lập. Cục phấn do đất, nước, nhân, công, khuông in v.v… hội hiệp mà thành, nhưng đất không phải cục phấn, nước không phải cục phấn, cho đến nhân-công, khuông in cũng không phải cục phấn, và ngoài các món ấy ra cũng không còn gì là cục phấn. Phật-pháp gọi các món ấy là nhân-duyên của cục phấn và nhận rằng cục phấn chỉ do nhân-duyên giả-hợp (vì nhân-công một sức mạnh, khuông in một khí dụng không thể thật hòa hợp với đất với nước) mà thành, không có tự-tánh.

Cũng như cục phấn, thân người do giòng sanh-mạng hiệp với cơ-duyên của cha mẹ, của đất nước, ánh sáng mặt trời, không khí v.v… hội-hợp mà thành. Nói rộng ra thì thế-giới thành-lập cũng do nhân-duyên, nghĩa là cũng do chủng-tử tứ-đại (như trong hóa-học gọi là nguyên-tử hay điện-tử) và tăng-thượng-duyên của nghiêp-lực hết thảy chúng-sinh hội hợp mà thành.

Muôn sự muôn vật đều do nhân-duyên hợp thành thì muôn sự muôn vật đều là đối đãi, không có tánh chắc thật, không có tánh độp lập, chỉ duyên với nhau, đối đãi với nhau mà hiện ra như huyễn như hóa.

Suy rộng ra thì mỗi sự vật đều do nhân-duyên đối-đãi trực tiếp hay gián tiếp của tất cả sựvật mà thành, vậy thật tánh của mỗi sự vật tức là tánh vũ-trụ. Xét được tánh ấy tức thì biết là sự sự vật vật đều hòa-hợp lẫn nhau, ảnh-hưởng lẫn nhau và một hành đọng của cá nhân đều có thể quan hệ đến toàn thể vũ-trụ. Người xưa có câu: “nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang”, mới nghe in tuồng viển vông, nhưng thật là một điều chắc chắn rất dễ chứng nhận, như một lới nói của Trâu-Kỵ làm cho nước Tề được hưng vương, một lời nói của Tần-Cối làm cho nhà Tống phải bại vong, đó là vài chứng-cứ rõ ràng trong lịch-sử.

Chúng ta thường thấy trong một địa-phương, nhiều người có đạo hạnh, có phúc đức thì địa-phương ấy mưa gió thuận hòa, thường hay được mùa và ít bị tai nạn, tật-dịch, đó cũng là nhờ ảnh hưởng của hành-vi cá nhân đến toàn thể thế-giới. Xem vậy thì biết mỗi người đối với xã-hội không thể không thận trọng về hết thảy hành động của mình, vì mỗi mỗi hành động đều có thể ảnh hưởng đến toàn thể loài người, ảnh hưởng đến toàn thể thế-giới. Toàn thể thế-giới đã do hành động của loài người ảnh hưởng mà thành, người lại do nhân-duyên của toàn thể thế-giới giả hiệp mà có, thì người và thế-giới không có thể rời nhau, người và thế-giới không hai không khác, xét như vậy thì biết người không có cá thể riêng, tánh người chỉ là tánh của xã-hội, tánh của thế-giới, tánh cảu vũ-trụ. Các vị đại-thánh đại-hiền nương theo thật tánh ấy đem cái lực lượng quan hệ đến toàn thể mà phát huy cùng khắp xã-hội, cùng khắp nhân-loại, cùng khắp thế-giới nên chính mình có thể chuyển được hết thảy, người thường lầm có tư ngã, nên mới tự-tư tự-lợi giành xé không thôi, thành ra thế-giới không an, nhân sanh không hưởng được thái-bình thịnh-trị. Thật ra tánh người là vô ngã, nương theo tánh vô ngã ấy mà hành động hằng ngày thì được tánh cộng-đồng và lần lần đến tánh chân thật của vũ-trụ, tức là tánh cộng-đồng vô-ngã. Thật tánh của nhân-loại đã là cộng đồng vô-ngã thì nhân-loại giúp-đỡ nhau, hòa-thuận nhau thì mới là hợp với bản tánh, chứ tranh-giành chỉ là một trạng thái đau ốm của xã-hội. Những vị đã chân chính nhận được thật tánh của mình, thật tánh của hiện sự tức là tánh cộng đồng vô ngã của vũ-trụ thì thường giữ thái độ nhu hòa, và phát tâm làm những việc hòa-bình an-vui, các vị đó không chút gì miễn-cưỡng, vì nhận biết tánh cộng-đồng vô ngã là tánh chân thật của mình, tánh chân thật của vũ-trụ bản-lai vẫn như vậy, không hề thay đổi. Tánh ấy cũng là nguyên-lý của Phật-học, người học Phật biết thật tánh của hiện sự là do nhân-duyên tạo thành, cộng-đồng vô-ngã không có tự tánh, nên phát sanh được chánh-trí, phát sanh được từ-bi, và có thể dạy đời những phương pháp rất thích hợp với bản tánh của người.

3.- HIỆN TƯỢNG THẬT TƯỚNG.- Lượng nghĩa là cân, là đo, là dùng trí-thức mà cân đo các sự vật trong vũ-trụ, nên trí-thức là năng lượng, vũ-trụ là sở lượng. Lượng có hai cách là hiện lượng và tỷ lượng.

Hiện lượng là cái hay biết trực tiếp, như thấy sắc nghe tiếng, toàn là hiện tại hiển hiện như vậy, còn tỷ lượng là nương theo cái hay biết trực tiếp mà xét suy, như biết uống nước trà thì đã khát là do tỷ lượng so sánh mà nhận biết, đúng đắn không sai. Nói tóm lại thì hiện tượng là cái hay biết trực tiếp, còn tỷ lượng là cái suy xét biết theo lý luận. Ngoài hiện lượng và tỷ lượng ra, lại còn một cách cân đo sai lầm gọi là phi lượng tức là cái hay biết không đúng đắn.

Song hiện lượng là cái kinh nghiệm rời rạc từng sát-na (thời-gian rất ngắn), từng bộ phận nên không cùng khắp, không hoàn toàn và phải nhờ tỷ lượng bồi bổ cái khuyết điểm ấy, còn tỷ lượng tuy cùng khắp, nhưng lại ít phần xác thật, nên thường phát cho một Quốc-gia, trong một thời-đại, thì nước ấy đời ấy đồng nhận là lẽ cố nhiên bất di bất dịch, nhưng chế-độ ấy vẫn có thể không thích dụng đối với nước khác, đời khác. Thế thì biết tỷ lượng dễ đi xa sự thật và có thể phát sinh nhiều lưu-tệ, nghĩa là cân đo lầm lạc (phi lượng) và gầy nhiều nỗi đau khổ (cái hay biết không thường và cái hay biết khoa-học lỗi lầm còn nhiều).

Song khi đã nhận được thật tướng của muôn sự muôn vật, hiện tượng chân chính có thể hay biết cùng khắp không cần bàn xét, và có thể cung bổ chỗ khuyết hãm ấy của tri-thức đối đãi phân biệt, không hoàn toàn không cùng khắp, trái lại cái trí nhận rõ thật tướng là cái trí vô phân biệt, không chia rẽ nên không đối đãi.

Mục đích của Phật-học là cốt thành tựu cái vô-phân-biệt-trí vượt trên cái đối đãi ấy, và lần lần đến cái hay biết hoàn toàn cùng khắp của Chư Phật gọi là nhất-thế-trí. Được vô-phân-biệt trí và nhất-thế-trí thì thiết thật chứng rõ chân tướng của vũ-trụ, nhân-sanh và hoàn toàn phát huy cái tánh giác-ngộ cùng khắp.

Vì các sự thống khổ của người đời đều do mê-lầm, đều không có chánh trí hiện lượng nên Phật-học, một môn học cốt được trí-huệ hoàn toàn, là một phương pháp mầu nhiệm, để trừ căn các điều thống khổ. Người học Phật chứng được hai trí ấy rồi thì các điều mê vọng hoàn toàn tiêu trừ, các sự đau khổ đều hết sạch, nhưng muốn đến địa vị ấy cần phải dùng nhiều công phu sâu-sắc mới được.

Hai đoạn trước còn có thể dùng lời nói mà giải thích chứ phần thứ ba nầy thì phải y theo Phât-pháp thật hành mà trực nhận, vì có tu tập dày công những phương pháp thích hợp mới đạt đến chỗ tinh yếu của Phật-học.

4.- HIỆN BIẾN THẬT LỰC.- Sự sự vật vật trong vũ-trụ nầy toàn tùy thời mà biến hóa. Cái sức chủ động làm trung tâm cho sự biến hóa ấy, thông thường lầm nhận là Ông Trời hay Tạo-hóa, nhưng xét cho kĩ thì chính là cái lực lượng tâm thức, như kinh Phật thường dạy: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

Tam giới là dục giới, sắc giới và vô sắc giới, tức là toàn thể vũ trụ. Hiện tượng của vũ-trụ do sự đối đãi với thân thể chúng-sanh mà thành các hình tướng, các hình tướng ấy thay đổi theo sự nhận xét của ngũ quan, như đối với con mắt ngựa, mọi vật đều lớn xấp mấy lần hơn tầm con mắt người, lại như các nhà nhận biết vũ-trụ đối đãi đã nêu lên rằng: Nếu thân người cao đến mười thước thì loài người sẽ thấy hoàn cảnh nhỏ lại 1-6 mà thôi. Người xuống nước thì ngộp, cá lên bờ thì chết, trâu không ăn thịt, mèo không ăn cỏ, những sự sinh-hoạt, những điều nhận biết khác nhau ấy đủ chứng rõ cái sai khác của hoàn cảnh đối với mỗi thân thể, nói cho đúng đối với sự nhận biết của mỗi thân thể, nghĩa là đối với tâm thức. Vậy tâm là sức chủ động biến hóa ra vũ-trụ, và giới đều là duy tâm.

Còn vạn pháp tức là tất cả sự vật trong mười phương ba đời, sự vật ấy, chúng ta lầm tưởng là thiết thiệt tồn tại ở bề ngoài, thật ra thì những sự như đi chạy, những vật như bàn, ghế, đều do tâm thức biến hiện: chẳng nói chi những sự vật quá khứ chỉ tồn tại nơi trí nhớ chúng ta, những sự vật vị lai chỉ vì ức đạc mà hóa có, chính những sự vật hiện tại cũng chỉ cho tầm phân biệt của chúng ta biến hiện mà thôi. Cũng như cảnh chiêm bao, cũng đủ cả nhà cửa núi sông, cũng có thân thể, có hành động, nhưng chỉ là cái biến hiện của tâm thức chiêm bao, Sự sự vật vật hiện tại đây cũng chỉ là cái biến hiện của tâm thức phân biệt, ngặt vì chúng ta chưa tỉnh giấc mê lầm nên chưa nhận biết đúng đắn mà thôi. Phật nhân rõ sức chuyển biến của tâm thức nên dạy rằng: vạn pháp duy thức, thế mới biết cái thật lực biến hiện ra sự sự vật vật, biến hiện ra toàn thể vũ-trụ, toàn là tâm thức.

Nhưng tâm thức nào phải vật gì khác. Người người đều có tâm, vậy người người đều có thể biến hốa vũ-trụ một cách tự tại, nếu có một lối nhận thức thích hợp đối với chân tướng của vũ-trụ, và một chí hướng nhất định để đạt đến địa-vị tối cao của tâm thức, nghĩa là đến địa-vị Phật.

Nho học có câu: “nhân nhân khả dĩ vi Nghiêu, Thuấn”. Câu ấy rất đúng. Chúng ta muốn đến địa-vị nào, đến bậc các vị đại-thánh như vua Nghiêu, vua Thuấn, hay hơn nữa đến bậc giác-ngộ hoàn toàn như Phật, chúng ta đều có thể tự-tại tự-chủ phát nguyện rèn tập trí-thức cho đến địa-vị ấy được.

Các nhà duy-vật lầm cho cảnh giới hiện tại là tự nhiên giới, không thể vượt qua được, họ đâu biết sức tự tại biến hóa của tâm thức vô biên vô lượng đã làm cho các bậc tu hành đến nơi thấy những điều không ai thấy được, nghe những điều không ai nghe được, cho đến thay đổi hẳn một cảnh giới nầy thành ra cảnh giới khác. Nói tóm lại cái hiện biến thật lực tức là cái tâm thức của chúng ta, chúng ta đều có tâm thì chúng ta đều có thể tự tại, tự chủ, nhắm thẳng bước lên địa-vị tối cao tức là thành Phật. Và Phật-học không phải là tiêu cực, không phải yếm thế, không phải là mê-tín, mà chính là những phương pháp đưa người đến chỗ tột cao, tột viên mãn, nghĩa là theo gương các đức Phật, thật hiện bản tánh của loài người, rồi do bản tánh mà cải thiện toàn thể vũ-trụ.

B.- ĐỘNG CƠ.- Xét rõ nguyên lý của Phật-học đã nhận biết Phật-học khác hẳn tất cả triết-học và tôn-giáo thế-gian.

Phật là vị giác-ngộ hoàn toàn tướng chân thật của sự sự vật vật, nên những phương pháp Phật dạy, mục đích dạy cốt để chỉ rõ cái chân tướng bản lai ấy mà thôi. Như đoạn trước đã nói, người người đều có tâm đều có hiện biến thật lực, tức là người người đều có thể thành Phật, nên Phật không những chỉ để cho chúng ta tín-ngưỡng mà còn làm mô-phạm cho mọi người. Chúng ta cần phải rõ biết Phật phát tâm thế nào, hành động thế nào, tu trì thế nào, thành công thế nào, rồi chiếu theo đó mà tu tâm thì mới chắc được thành Phật.

Cách phát tâm của Phật-học theo tiếng thông thường, cũng có thể gọi là động cơ. Động cơ cánh đáng mới phát sanh những hành vi và những kết quả viên mãn, chứ nếu động cơ chênh lệch hoặc lầm lạc thì kết-quả quyết không được toàn thiện.

Động cơ của Phật-học chính là chủ-nghĩa bình đẳng (bình-đẳng đây khác hẳn với chủ-nghĩa bình đẳng thông thường trong vòng đối đãi thế-gian, xin xem lại bài chân bình-đẳng trong Viên-âm thì rõ). Theo chủ-nghĩa ấy thể tánh của sựvật, gần từ loài người, rộng đến toàn thể chúng sanh, toàn thể vũ-trụ đều là bình đẳng.

Thế thường nhân thấy đất đá là loài không sanh cơ, cỏ cây là loài có sanh cơ, động-vật là loài có cảm tình, cho đến loài người lại có lý tánh, tư tưởng, đạo đức, mỗi loài mỗi khác, in tuồng không có gì là bình đẳng, vậy do đâu mà Phật thấy tất cả đều là bình đẳng? - Nhàn vi thật tánh của sự sự vật vật nhỏ như một vi-trùng, lớn như một thế-giới, gần từ loài người, xa đến hết thảy chúng sanh đều là một giòng sanh mạng lưu hành không nghĩ, nên về phương diện thật tánh ấy, Phật thấy đều là bình-đẳng, lại hết thảy chúng sanh đều có tâm, đều có hiện biến thật lực, đều có thể đến bậc giác-ngộ hoàn toàn, nghĩa là đều có Phật-tánh, nên tất cả chúng sanh đều bình-đẳng, lại địa-vị Phật không phải vượt ra ngoài tâm người, ai ai cũng đều có thể bình đẳng với Phật, miễn là biết tu hành như Phật.

Cái động cơ của Phật-học chính là tánh bình đẳng của toàn thể vũ-trụ nên người học Phật phải phát tâm khắp vì chúng sanh, chứ không vì một người, một thời-đại, một khu vực mà thành Phật. Phát tâm như vậy mới gọi là nguyên tâm bình đẳng, mới gọi là đại bi tâm.

Tâm của Phật cùng khắp vũ-trụ, trí huệ sáng suốt, đầy đủ năng lực và đạo đức hoàn toàn. Tâm của chúng sanh cũng đủ trí huệ đức tướng như Phật, chỉ vì mê lầm không tự biết nên không giác ngộ, xem nhỏ mình quá, đem chút giả tướng trong giòng sanh mạng nhận làm mình, sở dĩ không đầy đủ, phải tìm kiếm ở ngoài, mình tìm cầu, người tìm cầu, tất cả chúng sanh đều tìm cầu, nên hể gặp nhau thì cạnh tranh xâu xé, do đó phát sanh ra các điều đau khổ thật rất oan uổng, oan uổng vì chỉ bỡi không giác ngộ bản tánh, tự gây ra khổ, rồi tự chịu khổ mà thôi. Cái khổ đó nào phải vật ngoài làm cho khổ, nào phải tuyệt đối không thể thay đổi, chỉ vì mê mà chịu khổ mãi rất đáng thương xót. Người học Phật biết tất cả chúng sanh rất đáng thương xót, vì đáng lẽ đều có thể thành Phật mà lại cứ chịu luân-hồi đau khổ một cách oan uổng, nên phát ra tâm từ-bi. Người học Phật xét rằng tự mình không thành Phật thì không thoát-ly khổ não, xét rằng tất cả chúng sanh chưa thể thành Phật thì đều không viên-mãn, không viên-mãn mới có tìm cầu, có tìm cầu thì có biến hóa, mà có biến hóa thì phải xoay vần trong vòng biến hóa không thể tự chủ và chịu đau khổ, xét bản tánh chúng sanh như giòng nước khe núi quanh lộn ngàn vòng, uốn éo trăm cách, giòng sanh mạng của mình và tất cả chúng sanh đều vào sông ra biển nghĩa là đi đến con đường thành Phật. Vậy muốn cho tất cả chúng-sanh khỏi tất cả đau khổ, được mọi điều an vui chính là cái động-cơ của Phật-học.

Thế thì biết những người chỉ vì cá nhân mà tu hành hoặc trông mong ỷ lại nơi Phật để cầu phúc quả cho mình, đều không phải là người học Phật. Người học Phật cần phải vì tất cả chúng sanh mà phát tâm, duy trong lúc thật hành thì có thể dùng những phương-pháp không đồng nhau như: Hiện thấy trong nước nhiều sự thua kém đau khổ, ai nấy đều phát tâm làm việc cứu dân giúp nước, đó là động cơ rất chánh đáng: Còn về phần thật hành thì mỗi người chỉ khởi sự làm những việc mình có thể làm được mà thôi.

Nói tóm lại động cơ của người học Phật phải hoàn toàn bình đẳng, không thiên vị chút nào, người học Phật phải vì cứu vớt hết thảy chúng sanh mà phát tâm, phát tâm như vậy gọi là phát bồ-đề-tâm. Do phát bồ-đề-tâm làm động cơ mà tu các hạnh bồ-đề thì dù làm việc gì cũng khắp vì tất cả chúng sanh, nên tự nhiên chỉ có thiện mà không có ác, phát bồ-đề-tâm chính là cái động cơ thành Phật.

Thế thì biết người đời thường cho học Phật là tự tư tự lợi, cầu được an vui sau khi chết, thật rất sai lầm. Thật ra duy một bộ-phận Tiểu-thừa trong đạo-Phật chăm về mặt cá nhân giải thoát chứ căn bổn Phật-pháp cốt vì hết thảy chúng-sanh mà phát tâm, mà thệ nguyện độ tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Đức Phật Thích-Ca phát tâm xuất-gia tu đạo, hóa độ cho đời, vì xét thấy tự nhiên giới sanh sanh chẳng thôi, chủng loại đông nhiều mặc ý muôn vật cắn nuốt lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, dù sống, dù chết, dù vui, dù khổ, tự nhiên giới chẳng cần đếm xỉa, rất nhiều khuyết điểm: Ngài thấy tất cả sanh loại giành nhau giết nhau để cầu sống thêm ít ngày, sống một lối sống hung dữ và đau khổ rất đáng thương xót, nên mối phát tâm tìm các phương pháp làm cho chúng sanh thoát khỏi các điều khổ não.

Lòng đại từ bi của Phật nhân biết rằng muốn cứu thoát chúng sanh, tự mình trước phải giác ngộ hoàn toàn tánh tướng của vũ-trụ nhân-sanh mới đủ công năng cứu vớt, đó là chổ phát tâm của Phật. Phát tâm như vậy đâu phải là tiêu cực, nên kết quả được lối sống hiền hòa an vui tức là đại Niết-bàn. Ngài thành Phật rồi, ở không yên chổ, đi quanh các nước thuyết-pháp độ sinh, cho đến lúc gần nhập Niết-bàn Phật còn độ được cho ông Tu-Bạt-đà-la thành A-la-hán. Xem như vậy thì biết Phật vì tất cả chúng sanh mà phát tâm chứ không phải vì tự tư tự lợi. Những người lầm tưởng Phật pháp là yếu thế ra ngoài luân lý và nhân sanh, đâu hiểu rằng người đởi chỉ vì ở trong giòng sanh mạng mà không giác ngộ, nên không được an ổn, mà Phật pháp chẳng những thương đời, mà còn có các phương pháp, thật hành để giải-thoát cho đời, làm cho nhân-loại, làm cho chúng sanh đều được an vui hoàn toàn. Thế mới biết duy Phật pháp mới phát đạt được nhân-sinh, phát đạt cả sinh-hoạt về tinh thần và vật chất. Người học Phật, người học phép Đại-thừa của Phật, phải phát tâm nhận lãnh trách nhiệm ấy, mới thật là người học Phật.

C.- PHƯƠNG PHÁP TU TRÌ.- Dầu có động cơ đúng đắng, nhưng nếu không có phương pháp tu trì thích hợp thì không thể thật hiện được chí nguyện. Xem như chủ-nghĩa Xã-hội, mục đích muốn làm cho nhân-loại đặng giàu có, an vui, đâu phải không có một động cơ chính đáng, ngặt vì không có phương pháp thích hợp lại lợi dụng nhựng phương pháp cổ động lòng bất bình thù giận, ganh ghét của nhân-loại, nên kết quả chẳng những làm cho xã-hội được an vui mà trái lại còn làm cho xã-hội ít được an vui hơn nữa. Vậy Phật-học dầu biết nguyên lý, dầu nhận đúng động-cơ, nếu không biết phương-pháp tu-tập thích hợp thì không thể nào thành Phật được. Cũng như người đi đường, cần phải biết đường mới đi đến nơi đến chốn, người học Phật cần phải nhận rõ con ĐƯỜNG Tu-hành Phật-pháp mà bước tới. Con đường tu-hành Phật-pháp là con đường tiến-hóa của tâm-trí, vậy những phương-pháp tiến hóa chính là những phương-pháp tu-trì của người học Phật.

Song tiến hóa đây khác hẳn với tuyết tiến-hóa thế-gian. Trong thế-gian hết thảy chúng-sanh đều xoay-vần lưu-chuyển chứ không phải tiến-hóa, dù bước tới đi nữa, cũng đến một trình độ rồi phải trở lui. Ví như một đứa con nít lúc nhỏ kinh-nghiệm ít, lần lần học hỏi trí thức mở mang, đến lúc trưởng thành lập nhiều công-nghiệp, rồi lại trởi thành già yếu, kết quả đến chết là hết, dù về sau sanh làm người đi nữa cũng cũng chỉ sanh làm đứa con nít ít kinh-nghiệm khác mà thôi. Lại như quả địa cầu khi thành, khi trụ, khi hoại khi không, thay cũ đổi mới sanh diệt mãi mãi, không có chỉ gọi là biến-hóa. Vậy dưới con mắt của nhà học Phật, lối tiến-hóa của thế-gian chỉ là lối tiến-hóa giả tạm trong vòng luân-hồi, dù nhọc nhằn cho mấy cũng chẳng được thành-tích gì cũng chỉ trong vòng đau khổ rất đáng thương xót.

Phật-pháp đối với sự thống khổ ở đời có một lối giải-quyết triệt-để là phá-tuyệt các sự ràng buộc của sanh-tử luân-hồi, đặng đến chỗ tiến-hóa chắc thật. Người học Phật rõ biết giòng sinh-mệnh chuyển-biến vô-cùng, lớn nhỏ nương nhau, trước sau thông nhau, nên lập được một lý-tưởng đi thẳng dến chân sinh-mạng, ra ngoài các hạn-lượng, không có gì đáng chấp-trước, không có gì làm ngăn-ngại; họ chỉ bước tới mãi không hề trở lui.

Như trước đã nói, chân-tướng của vũ-trụ nhân-sanh, không đầu không đuôi hoàn-toàn viên-mãng, chiia không ra, nhập không được, dù một vậy gì đều do qua-hệ của toàn-thể vũ-trụ mà thành, một vật tức là hết thảy các vật, một vật nhập với hết thảy các vật, trong chân tướng ấy mỗi mỗi không có tự thể nhất định nên chỉ người không có tự ngã, người là giả tướng do các quan hệ đối đãi của toàn thể vũ-trụ nhóm họp mà thành, nhưng thật ra chân tướng vẫn cùng khắp vũ-trụ. Chân tướng ấy không đầu không đuôi, không bờ bến không hạn lượng, nên vũ-trụ nhân sinh đều không hạn lượng. Tâm chúng-sanh, nếu chưa có thể hoàn toàn khế hợp với chân tướng, mà biết cải thiện các tư tưởng hành vi thì lần cũng đến một lối tấn hóa vượt khỏi sinh-tử luân-hồi, song nếu muốn địa-vị rốt ráo của Đại-thừa Phật-giáo thì thế nào cũng phải phát tâm bồ-đề, tu các hạnh Bồ-tát và lần chứng các quả vị Bồ-tát của những bậc đã giác-ngộ một phần chân tướng vũ-trụ.

Nói tóm lại, các phương pháp tu hành của Phật-học là những phương pháp đánh đổ các tuần-hoàn luân-chuyển, bước thẳng lên con đường tiến hóa từ địa vị chúng-sanh tu chứng lần đến địa-vị Phật, sau khi trãi qua các từng bậc Bồ-tát, Từ thập-tín, thập-trú, thập-hạnh, thập hồi-hướng, tứ-gia-hạnh cho đến thập-địa. Xem như vậy, cái tấn hóa của vũ-trụ đâu phải chỉ hạn chế đến từng bậc người, trong đường tấn hóa biết bao địa-vị siêu nhân: Thập-tín tuy còn trong bậc người, nhưng đã là bậc Đại-thánh Đại-hiền, Thập-trú là những địa-vị siêu nhân rồi, Thập-trú sắp lên toàn là những bậc siêu nhân đến địa-vị Phật thì thấy toàn vũ-trụ làm sanh mạng, toàn vũ-trụ đã không hạn lượng thì Phật cũng không hạn lượng.

Song tuy Phật phổ-độ cho hết thảy chúng-sanh và tuy tất cả chúng-sanh đều có thể thành Phật, nhưng duy chỉ có chúng-sanh trong loài người rất dễ tu học Phật-pháp, vì những chúng-sanh bậc dưới như súc sanh, phần thì bị đau khổ áp bức, phần thì bị trí-thức hẹp hòi nên khó bề lãnh hội và tu học Phật-pháp, còng những chúng-sanh các cõi trên thì cảnh ngộ quá tốt quá vui, tầm thường say đắm theo hiện-cảnh nên khó bề nghĩ đến sự học Phật. Cũng vì cớ ấy nên Phật hiện thân trong loài người tuyên truyền Phật-pháp, và những pháp hiện chúng ta đang nghiên cứu tu học đây, chính là Phật-pháp đang lưu hành trong nhân-loại.

Từ khi đức Thích-Ca thành Phật đến bây giờ đã gần được Ba ngàn năm, Phật-pháp lưu hành trong mấy mươi nước, trãi qua những thời-đại khác nhau, dân-tộc khác nhau sở dĩ trong Phật-pháp thường thấy có lắm điều dung hòa cải cách để cho hợp thời cơ nghĩa là hợp với trào lưu thời đại, hợp với tâm lý quần chúng, vì không hợp thời cơ thì khó bề lưu thông cùng khắp. Nhưng dầu thế nào, đặc điểm của Phật-giáo côt phải khế hợp chân-lý, chân-lý ấy chính là cái chân tướng của vũ-trụ nhân-sanh mà trí-huệ rộng lớn viên-mãn của Phật đã nhận rõ, nếu trái với chân-lý thì không phải là Phật-pháp.

Như trên vừa nói, chân-lý cả Phật-pháp xưa nay vẫn một, không hề thay đổi, chỉ vì thời-đại, dân-tộc, tư-tưởng không đồng nhau nên các phương pháp giảng dạy lưu thông mỗi nơi mỗi khác.

Xét qua lịch-sử của đạo Phật, chúng ta có thể nhận thấy điều ấy rất rõ ràng. Như khi đức Thích-Ca ra đời trong xứ Ấn-độ, thiên hạ thái-bình, vật-chất đầy đủ, nhân-dân chỉ sợ các điều sanh, lão, bệnh, tử và cầu sự giải-thoát cho cá nhân, nên Phật đã theo tâm-lý quần chúng hiện thời mà trước hết nói các pháp Tiểu-thừa. Mà thật vậy, trong lúc phần nhiều quần chúng chỉ cầu cá nhân giải-thoát không cần biết đến bản thể của nhân-sanh thế-giới là không đầu không đuôi, không có hạn lượng, cho đến không có sanh-tử cần phải giải thoát: Phật-pháp phải thích hợp với thời cơ lượt qua các lý nhiệm màu và chỉ giảng pháp “vô-ngã giải-thoát”. Vô-ngã là không nhận tư-ngã, tư-ngã đã không còn, cá-nhân đã tiêu-diệt thì do đâu mà sanh-tử lưu chuyển được nữa.

Song theo lời Phật dạy trong kinh Diệu-Pháp Liên-Hoa pháp Vô-ngã giai-thoát của Tiểu-Thừa chỉ là phương-tiện trong nhất thời để cho quần chúng phát khởi tín tâm và lần lần lãnh hội chân-chánh Phật-pháp, thật ra Phật chỉ vì một đại-sự nhân-duyên mà xuất hiện ra đời, tức là làm cho toàn thể chúng sanh đều lãnh-hội lời Phật khai-thị mà ngộ nhập chánh-trí của Phật đã được thanh-tịnh, an-vui, vô-ngại, tự-tại. Sau khi Phật diệt độ rồi cũng vì tâm-lý quần-chúng ấy mà những phương pháp lưu thông 4,5 trăm năm trong cõi Ấn-độ vẫn là Tiểu-thừa: đến Ngài Long-Thọ mới xướng minh Đại-thừa Phật-giáo, nhưng nghi thức vẫn là nghi-thức Tiểu-thừa. Về sau Mật-tôn thịnh hành, tín-đồ thiên trọng về hình thức, hửng hờ về giáo-lý, nên Phật-giáo suy lạc và bị sáp nhập với đạo Bà-la-môn mà ông Thương-kiệt-La đã chấn hưng với những giáo-lý của Phật. Một duyên cớ của sự suy lạc ấy cũng là vì tư-tưởng Đại-thừa không thích hợp lắm với tâm-lý dân-tộc Ấn-độ.

Phật-giáo từ Bắc Ấn-độ truyền qua Trung-quốc, người Trung-quốc rất chú trọng về nhân-sanh nên thích hợp với Tiểu-thừa và giáo-lý Đại-thừa được lưu thông một cách dễ dàng. Nhưng ở Trung-quốc chính-trị xã-hội đã tổ-chức theo Nho-giáo lâu đời. Đại-thừa Phật-giáo khó bề nhập tục và chỉ thành một đạo-lý siêu việt cho các bậc thượng-lưu, còn phần lưu thông trong xã-hội chỉ là phần tùy-tín-hành của Phật-giáo mà thôi. Vậy nên ở Tàu hay ở ta đại để Phật-giáo chỉ có hai phần là đốn giáo của Thiền-tôn và tùy-tín-giáo của Tịnh-độ-tôn.

Hiện nay trào lưu cải cách, khoa-học mở mang, người đời rất chú trọng về vấn đề nhân-sanh, các nhà truyền giáo nên quan sát rõ ràng tâm lý của nhân-loại, lựa trong Phật-giáo những pháp môn thích hợp mà truyền bá thì mới có thể xướng minh Phât-học. Xét theo tâm lý hiện đại Tiểu-thừa không thể thích hợp với thoát-ly thế-giới và nhân-sanh, đốn giáo của Thuyền-tôn cũng vậy, vì không thể phổ thông, vì càn những công-phu đặc biệt mà duy các bậc thượng căn thượng trí mới tu được, còn Tịnh-độ-tôn thì có phần ỷ lại oai lực thiêng-liêng nên cũng chỉ có thể hóa độ cho những người sẵn lòng thiện tín, và cũng chưa phải là pháp môn hoàn toàn thích hợp. Vậy đối với nhân tâm hiện tại đương cực lực mưu cầu cho sự sinh-hoạt được mỗi ngày thêm hòa-bình ưu mỹ, đương hết lòng trông cậy phương pháp thật hành thật dụng của khoa-học, đương tổ-chức chính-trị xã-hội theo lối khoa-học, thì duy có Tiệm-giáo của Đại-thừa là thích hợp hơn cả.

Tiệm-giáo của Đại-thừa lấy nhân-loại làm cơ sở bước một bước là thật chứng của một bước, nên rất thích hợp với tâm-lý ngày nay.

Theo Tiệm-giáo của Đại-thừa, bước đầu tiên của người học Phật là phải hoàn toàn nhân cách, nghĩa là về phương diện sanh-hoạt vật-chất có những lối giải quyết thỏa đáng, mà về phương diện đạo lý lại có những trí-thức thích hợp với lý tánh của nhân-loại, những hành vi biểu lộ sự phát triển của đức hạnh. Hoàn toàn nhân cách rồi, sanh-hoạt vật chất giải quyết, sinh-hoạt trí-thức nâng cao, sanh-hoạt đạo-đức hoàn thiện rồi, mới đem chổ ấy mà cải-thiện gia-đình, cãi-thiện quốc gia, cãi-thiện xã-hội, cãi-thiện thế-giới, và thành những bậc thánh-nhân trong nhân-loại. Các bậc ấy phát cái tâm vô thượng viên giác, khởi cái nguyện phổ độ chúng sanh, chính với cái thân người mà tân hóa thì không cần thoát-ly thế-giới, mà lần lần bước lên đia-vị Thập-tín.

Các bậc Thập-tín hoàn toàn công năng đức dụng của mười tín-tâm thì tóm lại thành bậc sơ phát tâm trú. Lên bậc sơ trú là đã chân chính đi thẳng trên con đường tấn hóa giòng sanh-mạng khi ấy không còn phiêu dạt theo trần lụy, không còn xoay vần mãi trong vòng mê lầm mà đã phát khởi tâm quyết định độ khắp chúng sanh đều thành Phật trong thời-gian vô cùng vô tận, nên thường vì chúng sanh, học khắp tất cả tài năng học vấn trong thế-gian, đó là tâm bồ-đề kiên cố chỉ có tới chứ không có lui, không còn có thể thối-đọa được nữa.

Từ Sơ-phát-tâm-trú, lần lần tấn hóa mãi qua chính tầng bậc, viên-mãn tâm Thập-trú, đối với chân-lý đã khế hợp hoàn toàn, đủ năng lực mà làm các việc hy sinh lợi tha, nên lên bậc Thập-hạnh đăng tu tập mười hạnh Ba-la-mật. Hạnh thứ nhất là hoan-hỷ hạnh, hạnh nầy tu phép bố thí, lấy cái hoan-hỷ của hết thảy chúng sanh làm hoan-hỷ: về tài thí hy sinh thân mạng tài-sản để cứu người cứu đời, cứu nước, về pháp thí xiễn minh chân lý đem các phương pháp thích hợp mà dạy vẻ cho đời, về vô úy thí thì giúp người cứu vật, cố trừ các điều nguy hiểm, đau khổ, sợ hãi cho toàn thể chúng sanh. Tu các hạnh Ba-la-mật như hạnh hoan-hỷ đầy đủ thì đã bước một bước khá dài trên đường tấn hóa và những thần thông chứng nghiệm đều được thực hiện.

Thập-tín, Thập-trú thiên về lý, Thập-hạnh thiên về sự, nên đến khi Thập-hạnh viên-mãn rồi thì phải bước lên tu mười phép hồi-hướng, đầu tiên xoay sự về lý, xoay lý về sự, cho đến khi sự lý không hai, lý sự không ngại, rồi lần lần xoay tâm chúng sanh về Phật, xoay tâm Phật về chúng sanh, cho đến xoay hết thảy công-đức về cho chúng sanh, xoay hết thảy chúng sanh về tự tâm mình. Bực Thập-hồi-hướng lần lần tấn hóa đến bốn bậc Gia-hạnh rồi do Gia-hạnh mà lên Thập-địa từ hoan-hỷ-địa cho tới Pháp-vân-địa, thật nghiệm được chân tướng của vũ-trụ nhân-sanh, không trước không sau, không đồng không khác, không thể nói được, không thể nghĩ được. Bậc Thập-địa, trình độ càng cao, lực lượng càng lớn, sanh lý vật chất đều biến hóa, thế giới hiện thật tùy tâm thay đổi, đến bậc đó mới thật hiện vũ-trụ duy-tâm, vạn-pháp duy-thức.

Người thường chỉ theo nghiệp mà phân biệt, sâu bọ thì biết cảnh sâu bọ, người thì biết cảnh người chứ không thể tùy tâm tạo thành cảnh giới duy có bậc đã phát triển lực lượng tâm lý một cách đặc biệt mới có thể đem tâm lý mà ảnh hưởng đến sanh lý, đem sanh-lý mà ảnh hưởng đến vật lý, đến khi công hạnh viên mãn thì biến hiện thân thể, biến hiện vũ-trụ, vào lửa không cháy, xuống nước không ngộp, chẳng những không bị tự-nhiên-giới chi phối mà còn cải-tạo được tự-nhiên-giới, trí-tuệ sáng suốt, đầy nhẫy vũ-trụ không sự gì vật gì là không thấu rõ.

Các bậc Sơ-địa Bồ-tát đã hoàn toàn chúng minh thân tướng của vũ-trụ, nhưng trí-huệ chưa được viên mãn, bậc Thập-địa thì trong dây lát đã toàn rõ biết tất cả các Pháp của Chư Phật dạy trong mười-phương thế-giới, các bậc Bồ-tát tột cao như ngài Quan-Thế-Âm thì rất gần địa-vị Phật, đến khi công hạnh viên-mãn tức là thành Phật.

Phật là tên hiệu chung của các bậc hoàn toàn giác-ngộ, Phật không phải đơn độc mà cũng không phải tương đối, thật là bất khả tư nghì. Phật không phải một, không phải nhiều, không phải đồng, không phải khác, bất luận xuất hiện một tự thể gì thì tự thể ấy cũng cùng khắp vũ-trụ, vì toàn vũ-trụ là Phật, mà toàn vũ-trụ của Phật là rốt-ráo hoàn-thiện, thanh-tịnh, sáng-láng, an-vui, Vì vậy nên phương pháp học Phật là thật hiện lý-tưởng của Phật, cãi tạo nhân loại cãi tạo toàn thể vũ-trụ thành hoàn-thiện viên-mãn, đó là thật sự cần phải thật hành, có thật hành mới có thể từ bậc người tấn-hóa lần lần đến địa-vị Phật.

D.- KẾT QUẢ.- Kết quả của Phật-học là tự-tại vô-ngại.

Tự-tại, ý nghĩa tuy gần với chữ tự-do, nhưng không có ý nghĩa phóng-túng tư-dục làm càn làm quấy như chữ tự-do. Tự-tại là đủ năng lực làm tất cả công việc theo chí-nguyện lơi-tha.

Vô-ngại là không còn bị gì ngăn ngại, Vô-ngại tức là Pháp-thân, là cái lực-lượng quan-hệ của toàn vũ-trụ thưởng ảnh-hưởng với nhau mà thành sự tướng, sáp-nhập với nhau mà thành chân-lý, không thể nghĩ-nghì, tất cả sự vật đều là chủ (chủ quán), tất cả đều là bạn (khách quán), làm chủ làm bạn cho nhau, một pháp làm chủ thì tất cả các pháp là bạn, chủ bạn nương nhau, trùng trùng không tột, cảnh giới ấy là vô-ngại pháp-giới, không thể đem cái tư-tưởng còn tương đối, còn phân biệt, còn các điều đối đãi (có và không, phải và trái, tâm và cảnh, bỉ và thử v.v…) mà tưởng tượng được. Cảnh giới ấy không thể nói được, nhưng không thể nói không phải vì không nên nói, nhưng chính vì tột cái năng lực của ngôn-ngữ, nói mãi nói mãi, cũng chỉ nói được phần đắc đường chỉ nẻo để tu tấn mà thôi, cũng như lấy tay chỉ mặt trăng được. Người học Phật đạt được cảnh giới ấy tức là thành-tựu vô-ngại pháp-thân.

Vô-ngại pháp thân là toàn tánh của vũ-trụ, tự tha không hai, viên-dung không ngại nên đặng sức đại-tự-tại.
1) Tự-tại về cảnh trí tức là bát-nhã, là bồ-đề, là trí-đức.
2) Tự tại về nghiệp-quả tức là giải-thoát, là niết-bàn, là đoạn-đức.
3) Còn tự-tại hoàn-toàn tức là Pháp-thân, là ân-đức.

1)- Tự tại về cảnh trí.- Tri thức thông thường còn trong vòng tương đối, bị không-gian và thời-gian hạn chế. Tâm-lý bị sanh-lý chi phối chỉ sống trong cảnh giới riêng của nghiệp mình nên thường có chướng ngại. Trái lại trí-huệ của các bậc giác-ngộ nhận rõ chân tướng của sự sự vật vật nên cảnh giới vô ngại thường hiện trong trí-huệ vô-ngại. Cảnh-giới vô-ngại, trí-huệ vô ngại nên ngoài cảnh không trí, ngoài trí không cảnh, cảnh và trí nhất như không hai mà trí-huệ vẫn rõ-rõ ràng-ràng nhận biết tất-cả các cảnh ra ngoài hạn-lượng thời-gian và không gian, trong hết thảy thời, cùng tột hư-không, tất cả chủng-loại, đều đồng rõ biết cùng khắp mà trí và cảnh lúc nào cũng viên dung vô-ngại, đó là kết quả tự-tại về cảnh trí mà trong kinh thường gọi là chánh biến tri, và Trí đức.

2)- Tự tại về nghiệp quả.- Nghiệp-quả là kết quả của các nghiệp nhân rước. Tất cả chúng-sanh vì mê-lầm nhận có thật ngã, đối với-hoàn cảnh tạo ra những nghiệp nhân lành dữ, ảnh hưởng lại giòng sanh-mạng, kết hợp thành nghiệp-báo tương-lai, trong lúc thọ báo bị nghiệp lực (là ảnh hưởng các hành vi trước) ràng buộc chi phối, nên phải chịu sanh tử luân-hồi. Các bậc A-La-Hán tạo nghiệp nhân vô-ngã, thành nghiệp-qủa thoát ly sanh-tử, nhưng còn đứng về phương diện tiêu-cực, không được tại. Duy có Phật mới thật là đại-tự-tại, vì Phật đã cải thiện tất cả các nghiệp hữu lậu bất thiện, tạo các nghiệp vô-lậu thanh tĩnh. Nơi qủa vị ấy, tất cả các điều không tốt đều tiêu diệt, tất cả các điều hay tốt đều viên-mãn, đó là kết quả tự tại về nghiệp quả mà trong các kinh thường gọi là đại Niết-bàn, là đoạn-đức.

3)- Tự tại hoàn toàn.- Tự tại hoàn toàn tức là pháp thân, tức là vô-ngại pháp giới, bản thân Chính là toàn thể vũ-trụ, hết thẩy chúng-sanh luân-hồi sanh tử trong pháp thân mà pháp thân vẫn hoàn toàn tự tại trong hết thẩy chúng sanh của toàn thể vũ trụ. pháp thân cảm hóa, phát được trí huệ của Phật, giải thoát tất cả khổ não, hưởng thọ tất cả an-vui, nên Pháp-thân đối với chúng-sanh có ân đức lớn và trong kinh điển Phật-giáo cũng thường gọi Pháp thân là ân đức.

Viên-mãn đủ ba đức là trí-đức, đoạn-đức, và ân-đức, tức là thành Phật, nghĩa là đến mục đích tối cao của Phật-học.


Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: dieuphaptu@gmail.com