Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
Đã Phát Hành:

 Phủ Định Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán
 Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi
 Giọt Sương Huyễn Hóa
 Pháp Tu Quán Âm
 Trung Luận
 Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại
 Lược Sử Thời Gian
 Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung
 Bước vào Thiền Cảnh
 Đại Cương Triết Học Trung Quán
 Đại Tạng Kinh Nhập Môn
 Cẩm Nang Nhân Sanh
 Thập Nhị Môn Luận
 Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21
 Con đưòng dẫn đến hạnh phúc đích thực
 Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo

BƯỚC VÀO THIỀN CẢNH

CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM

KHÔNG PHẢI GIÓ ĐỘNG CŨNG KHÔNG PHẢI
PHƯỚN ĐỘNG MÀ CHÍNH LÀ TÂM
CỦA NHƠN GIẢ ĐANG ĐỘNG

     LỤC TỔ HUỆ NĂNG

     Đời Đường có một vị thiền tăng vĩ đại, đó là Lục Tổ Huệ Năng đại sư (Tây nguyên 638-713) “Cao Tăng truyện” ghi chép rằng ngài mất cha, nhà nghèo, và vì phụng dưỡng mẹ già nên phải bán củi để duy trì sự sống. Đối với đoạn truyền ký này, tôi cảm thấy hoài nghi về tính chân thật của nó. Có lẽ người đời sau vì muốn cường độ sự so sánh giữa Lục Tổ Huệ Năng đại sư và đối thủ của Ngài là Thần Tú (Đại Thông Thần Tú thiền sư), mà cố ý miêu tả ngài là người nghèo khổ lại mù chữ để nhấn mạnh tánh chất bình phàm và thảo căn của Ngài!
     Tạm thời xin miễn luận việc chân giả, để chúng ta tiếp tục suy xét về sự nghiệp bán củi để duy trì sinh sống của Lục Tổ Huệ Năng
     Một hôm nọ, trong lúc vô tình Huệ Năng đã nghe một vị khách đến từ Huỳnh Mai Am niệm tụng “Kim Cang Kinh” (1) mà khai ngộ. Cũng do chính người khách cho biết là Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đại sư đang ở Huỳnh Mai Sơn, thế là ngài phát tâm cầu pháp và liền bái biệt mẹ già để dấn thân đi đến Huỳnh Mai Sơn.
     Trên sự thật, sự tu hành của Huệ Năng tại Huỳnh Mai sơn mà người tu hành chúng ta thường biết đến, những tương truyền ấy đã không giống nhau, chỉ biết là mỗi ngày ngài phải đạp cối đá không ngừng ở phòng giã gạo, thế thôi. Đấy là khóa tu hành thường nhật của Tổ Huệ Năng.
     Chợt đến một ngày.
     Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn muốn chọn người để kế thừa trong số các đệ tử, nên đã ra lệnh cho những đệ tử mỗi người cần đem cảnh địa mà mình đã liễu ngộ viết thành một bài kệ để biểu đạt. Đương thời trong đám đệ tử của ngài, ưu tú nhất là Thần Tú thiền sư. Thiền sư Thần Tú làm và dâng lên Ngũ Tổ một bài kệ như sau:
          Thân thị Bồ Đề thọ
           Tâm như Minh Kính dài
           Thời thời cần phất thức
           Vật sử nhá trần ai
     Tạm dịch:
           Thân là cây Bồ Đề
          Tâm như đài gương sáng
          Luôn cần mẫn lau chùi
          Đừng để cho bụi bám
     Đại ý là: Chúng ta vốn có sẵn tâm thức thanh tịnh, giống như tấm gương sáng nhưng đang bị che phủ bởi bụi bặm phiền não, vì thế để khôi phục sự chiếu sáng của nó, cần phải lau chùi liên tục bụi bặm đang phủ bám bên trên.
      Đối lại, Huệ Năng cũng củng làm một bài kệ:
          Bồ Đề bổn vô thọ
          Minh Kính diệc phi đài:
          Bản lai vô nhứt vật
          Hà xứ nhá trần ai?
      Tạm dịch:
          Trí giác vốn không cây
          Gương sáng cũng không đài
          Xưa nay không một vật
          Chỗ nào bụi nhuốm đây?
     So sánh hai bài kệ này, quả thật Thần Tú là một vị Thiền sư cố gắng không ngừng để đoạn trù phiền não mà siêng năng cần mẫn, còn Huệ Năng thì giác ngộ đến tận đầu nguồn đạo lý phiền não vốn là không thật. Bởi vì tự tánh tốn thanh tịnh, căn bản đã không có cái gọi là phiền não. Đã không phiền não, thì cần gì phải khổ cực bận tâm đoạn trừ phiền não? Sự phát biểu của Huệ Năng đích thật là một lời nói đã mở toang (đập vỡ) sự chấp trước của thường nhân đối với phiền não.
     Đúng thế, sau khi so sánh hai bài kệ, rõ ràng cảnh giới của Huệ Năng thật cao siêu mầu nhiệm. Nếu xét trên mặt hiện tượng, có thể dùng đao chặt đứt phiền não thành hai đoạn quả thật đó là một vấn đề tương đối khá lợi hại. Người thường vì thế mà đã cho rằng chỉ có thiền tài của Huệ Năng mới là nguồn thiền chân chính, nhưng thực ra, nếu nhận xét như vật thì đã không chính xác. Bởi lẽ, nếu muốn đạt đến cảnh giới mà Huệ Năng đã có, mà không trải qua gia đoạn mà Thần Tú đã đề cập là một điều bất khả. Điểm này tuyệt đối chúng ta không thể thờ ơ.
     Đúng vậy, nếu đứng trên lập trường khai ngộ để khẳng định thì căn bản đã không có phiền não để nói, nhưng, muốn đạt đến cảnh giới như thế thì đó không phải là một việc dễ dàng. Hãy lấy thí dụ về kinh nghiệm cai thuốc lá của tôi:
     Đã từng bao phen thử cai thuốc, nhưng cuối cùng vì không cách nào khắc chế được mình nên tôi đã tuyên bố thất bại. Rồi có một lần, tôi quyết định thử thả lỏng tâm tình để theo dõi việc cai thuốc, nên đã cố ý mang thuốc lá đặt trong túi áo. Trải qua thời gian không lâu, phương pháp của tôi quả nhiên có hiệu nghiệm, kết quả tôi không phí sức chút nào mà đã cai được thuốc.
     Sau khi cai thuốc thành công, tôi mới hiểu rõ rằng phàm sự việc khi bắt đầu không cần thiết phải khổ cực và khẩn trương quá độ như thế, nhưng, những lời nói này chỉ có thể nói được sau khi đã thành công. Đối với một số người đã cố gắng không ngừng để cai thuốc, quá trình kỷ luật chắc chắn là cả một tích luỹ của vô số đau khổ, và trước khi cai thuốc thành công, dầu sao thì vẫn phải trải qua cái khảo nghiệm đau khổ ấy. Vì thế, để giác ngộ thấu triệt cái đạo lý phiền não vốn không của Huệ Năng đại sư cố nhiên đó là việc trọng yếu, nhưng trước khi giác ngộ một cách thấu triệt, thì cái giá đau khổ phải trả trong một giai đoạn vẫn là một sự cần thiết.
     Điều đó có nghĩa là, chúng ta cần trải qua giai đoạn tu hành “Thời thời cần thiết phất thức, vất sử nhá trần ai”, mới có thể liễu ngộ cảnh giới “Bản lai vô nhứt vật, hà xứ nhá trần ai”. Tình hình này giống như đạo lý trông thấy một con chim nước với thần thái tự tại đang bơi trên mặt nước, trong khi đôi chân của nó ở dưới nước quạt đi quạt lại không ngừng. Vì thế nếu một mực cố chấp lấy bài kệ ngữ của Huệ Năng đại sư để lý giả sai lầm về thiền, rằng là, không cần thiết phải trải qua bất cứ sự tu hành nào, như thế là rơi vào cạm bẫy nguy hiểm mà tự mình không hay. Đây là điểm cần lưu ý khi bình phẩm và tán dương bài kệ kiến tánh của Huệ Năng đại sư.
     Lục Tổ Huệ Năng đại sư còn có một truyền thuyết khác, miêu tả rằng sau khi thừa kế y bát của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Huệ Năng đại sư đã vì sự tu hành sau khi ngộ đạo mà đời chân đến Nam Hải.
     Bấy giờ tại Pháp Tánh Tự Quảng Châu có vị Ấn Tôn thiền sư đang giảng về “Kinh Niết Bàn”, thế là Huệ Năng đại sư quyết định ở lại mấy ngày tại Pháp Tánh tự để nghe Thiền sư giảng kinh.
     Hôm ấy, vì thiền sư giảng kinh nên trước chùa dựng rợp cờ phướn.
     Ấn Tôn thiền sư nổi tiếng khắp nơi, do đó đã rất đông người từ mọi miền ào ạt tìm đến. Trong ấy có hai vị hoà thượng, trông thấy cờ phướn phất phới trước cửa chùa nên liền bắt đầu nghị luận. Một trong hai vị phát biểu:
     “Phướn động”.
     Người kia cãi lại:
     “Không phải, gió động”.
     Kết quả hai người đã tranh luận không ngừng, dẫn đến tình trạng rất đông người dừng bước đứng xem.
     Lúc ấy Huệ Năng đại sư cũng đến để xem, nghe xong ngài liền lên tiếng: “Không phải phướn động, cũng không phải gió động, mà chính là tâm hai vị đang động”.
     Hai người đang tranh luận, nghe Huệ Năng đại sư phê chỉnh, tức thời hoát nhiên diạ ngộ. Khi nghe việc này, Ấn Tôn pháp sư tức khắc hiểu rằng những lời nói của Lục Tổ Huệ Năng đại sư, chính là trung tâm tư tưởng của “Kinh Niết Bàn” mà mình đang khai giảng, thế là ngài lập tức cung thỉnh đại sư thăng đàn thuyết pháp và đảnh lễ tôn Lục Tổ làm thầy.
     Đây chính là trường cảnh khiến người vô cùng cảm động. Thật vậy, phàm phu chúng ta vì cứ chấp trước hiện tượng ngoại giới mà thờ ơ đối với nội tâm của mình. Phần lớn vấn đề sanh ra lại chính là được xuất phát từ trong nội tâm của chúng ta.
     Ví như, không biết quý vị có kinh nghiệm giống như sau đây hay không?
     Một hôm, có người được cấp trên khen thưởng nên vui mừng ra mặt. Nhưng sau đó không lâu, không rõ vì nguyên nhân nào, mỗi lần gặp cấp trên là ông ta biểu lộ nét mặt chán ghét giống như kẻ thù k hông đội trời chung. Cũng chỉ một người, nhưng vì tác dụng của chính nội tâm chúng ta nên hiện ra diện mạo khác nhau.. Vì thế, những đối tượng mà chúng ta thấy, kỳ thực đều là vọng tưởng được phát sanh từ trong nội tâm của chúng ta, căn bản đã không có bất cứ một thực thể nào tồn tại cả.
     Có lần tại Sát Nhữ Nạp Đức (2) Ấn Độ, tôi đã gặp phải một việc thế này:
     Có một thiếu niên Ấn Độ chiêu dụ khách du lịch để bán vật phẩm, chận một du khách người Mỹ là một bà lão khoảng 60 tuổi, thiếu niên áo quần lam lũ này nhanh tay móc túi ra một vật phẩm và nháng qua mắt bà.
     “20 đô la”, thiếu niên kêu giá.
     Bà Mỹ trông thấy vật phẩm, cặp mắt bỗng sáng trưng, vội vàng mở xách tay móc tờ 20 đô trao cho anh ta và chộp ngay vật trên tay thiếu niên nhanh nhẹn dúi vào ví xách của mình> Chiếu theo tình cảnh này, thì rõ là người đàn bà dường như đã rất ưa thích vật phẩm đó, đại khái bà đã cho rằng mình mua đúng bảo vật!
     Kết quả bà đã mua được vật gì mà khiến tôi cảm thấy hết sức hiếu kỳ như thế? Theo chỗ tôi biết, tại Ấn Độ du khách không thể mua được bảo vật gì cả. Một trăm phần trăm là bà ấy đã bị lừa. Tôi nhủ thầm: “Lại một người nữa bị gạt, thân đáng thương hại”
     Sau khi bà ta đi khỏi, tôi gọi người thiếu niên Ấn Độ lại và dùng vài tiếng Ấn Độ đơn giản bảo hắn: “Khoan đi, hãy cho tôi xem cái vật mà chú vừa bán cho bà nọ!”
     Thiếu niên lấy từ trong túi ra một pho tượng Phật cao độ 5,6 tấc, được cố ý trạm trổ lồi lõm, thoạt nhìn qua cứ tưởng đó là di vật cổ xua được đào lên từ dưới lòng đất. Bởi lẽ Sát Nhữ Nạp Đúc là một vùng đất đai của những di tích cổ xưa, có rất nhiều di sản văn hoá vô giá. Người đàn bà Mỹ chắc chắn đã cho rằng tượng Phật do thiếu niên bán là một cổ vật, nên mới vội vàng mua và thủ ngay vào xách tay của mình.
     Kỳ thực, tượng Phật đó chỉ là loại thủ công phẩm dùng đất nhào nắn tái tạo lại.
     “Pho tượng Phật này dại khái chỉ đáng 30 đồng Ấn”
     “Hừ!”
     30 đồng Ấn Độ trị giá bằng 3 đồng tiền Đài Loan, nhưng trên thực tế có thể không tới 3 đồng. Cuối cùng, tôi mua của thiếu niên nọ hai pho tượng với giá 7 đồng tiền Đài Loan.
     “Hưu khô ly a! (Dhanyavad: Cảm ơn)” Gã thiếu niên vô cùng mừng rỡ, dù hai pho tượng chỉ bán được 7 đồng Đài Loan, nhưng đối với họ đã là có lời. Tôi nghĩ có lẽ trong nhà của thiếu niên này dám có đến trên 100 pho tượng như thế!
     Tôi manghai pho tượng trở lại lên xe bus của đoàn du lịch. Vì với danh nghĩa cố vấn của đoàn hành hương Ấn Độ, nên mọi người trong đoàn đều gọi tôi là “Thầy”
     “Thưa thầy! tôi cũng định mua loại tượng Phật này, không hiểu thầy mua bao nhiêu?”
     “Hai pho tượng chỉ 1 đồng Ấn?”
     “Cái gì, chỉ có 1 đồng Ấn?”
     Người hỏi đột nhiên sắc diện tái xanh, ông thú nhận là đã mua một tượng giống hệt tôi đã mua đến 200 đồng tiền Ấn.
     “Bậy rồi!”, tôi nghĩ, tưởng chỉ có bà Mỹ bị gạt 20 Mỹ kim, nào ngờ ông bạn đồng hành cũng bị mua lầm. Nếu biết như thế thì tôi đã không nói thật giá.
     Ngẫm nghĩ cho cùng, bà Mỹ vẫn hạnh phúc hơn vì có lẽ mãi cho đến giờ này bà vẫn tin rằng tượng Phật ấy là một di vật cổ xưa! Và vì gặp vận hên nên chỉ tốn 20 đô la mà đã mua được, có thể bà còn cảm ơn ân tứ của Thưọng đế!
     Thương hại nhất là người nghe giá tôi mua. Ban đầu ông ta chắc rằng với cái giá trên 1000 đồng Đài Loan mà mua được báu vật vô cùng trân quý thế này đã là rẻ chán. Không ngờ chỉ trong khoảnh khắc, ông phát giác rằng bảo vật chỉ là loại thủ công nghệ phẩm làm bằng thứ đất sét thô thiển! Chỉ e sau này mỗi khi trông thấy bất cứ tượng Phật nào cũng sẽ khiến ông dấy lên cảm giác khó chịu.
     Nhưng, tượng Phật vẫn là Phật tượng, tự nó vốn không có gì thay đổi. Thuỷ chung cũng đều là một pho tượng. Có thay đổi chăng thì đó chính là cái tâm của ta. Tuỳ theo sự thay đổi của tâm tình mà Phật tượng giống nhau đó bị tặng cho những ý nghĩa khác nhau.
     Sau này tôi đã mang một pho tượng làm lễ vật để tặng bạn tôi, tuy không nói ra trị giá, nhưng bạn tôi rất mừng và bày tỏ là ông đã mãi ao ước một pho tượng như thế và nay vì do phúc duyên nào đó mà ông có thể có được một tượng Phật có pháp tướng tôn nghiêm từ bi thánh thiện như thế.
     Thật vậy, Phật tượng ấy đã có một khuôn mặt từ bi vô cùng khả kính và tôi cũng đã tôn trí pho tượng còn lại để thờ phụng trên một hương án.

  • Chú (1): Toàn danh là “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh” lược gọi là “Kim Cang Kinh” Toàn kinh thuật rõ đạo lý của “Không” và “Vô Ngã”, là một trong những kinh điển đại biểu cho Đại Thừa Phật Giáo.
  • Chú (2): Tức “Lộc đã uyển” đã nói trong kinh Phật. Đức Thích Tôn đã chuyển pháp luân ở đây và đã trở thành một trong những thánh địa của Phật giáo.

  tiếp      



      Giới Thiệu Tác Phẩm:     

Phậ­t Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21



Thiền Trong Nghệ Thuậ­t Bắn Cung


Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.