Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
 
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang
Chùa Diệu Pháp - GHPGVNTN - DIEU PHAP TEMPLE
Đã Phát Hành:

 Phủ Định Thức và Biện Chứng Pháp Trung Quán
 Nhiệm Mầu Từng Giọt Nắng Rơi
 Giọt Sương Huyễn Hóa
 Pháp Tu Quán Âm
 Trung Luận
 Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại
 Lược Sử Thời Gian
 Thiền Trong Nghệ Thuật Bắn Cung
 Bước vào Thiền Cảnh
 Đại Cương Triết Học Trung Quán
 Đại Tạng Kinh Nhập Môn
 Cẩm Nang Nhân Sanh
 Thập Nhị Môn Luận
 Phật Giáo Hướng Dẫn Thế Kỷ 21
 Con đưòng dẫn đến hạnh phúc đích thực
 Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo

BƯỚC VÀO THIỀN CẢNH

CHƯƠNG II
HƯỚNG CAO TĂNG HỌC TẬP THIỀN TÂM

ĐỐI VỚI VẬT XẢ BỎ MÀ CẢM THẤY TIỀN NUỐI
THÌ CHÍNH NÓ LÀ MỘT LOẠI PHIỀN NÃO

     BÀNG CƯ SĨ

     Quyển sách “Chánh Pháp Nhãn Tạng Tuỳ Văn Ký” này, là ngũ lục của Đạo Nguyên thiền sư – Khai sơn tổ sư của Tào Động Tôn Nhật Bổn. Người soạn là cao túc (học trò) của Ngài là Hoài Trang thiền sư. Tôi muốn đem nội dung của quyển sách này để giới thiệu tỉ mỉ đến quý vị, nhưng, vì trang giấy có hạn nên chỉ có thể dẫn dụng những phần có liên quan đến nội dung thảo luận trong sách, và dưới đây là trích đoạn dịch văn đã tiết lục:
     Một hôm, có một vị tăng đến hỏi tâm yếu của tâm hành. Tôi bảo với ông thế này: “Người học đạo có thể cần phải “Nghèo” trước, vì tiền bạc nhiều thì dễ mua sắm đắm đuối vào vật chất mà nản chí tinh thần, người tu hành tại gia thường lo lắng tiền tài, lưu luyến chỗ ở, và giao dịch qua lại với bao nhiêu thân hữu, do vậy dù mà có chí tu hành, cũng bị cản trở rất nhiều trong phần nhân duyên chứng đạo. Cho nên xưa nay dù người tham gia tu học đông đảo, nhưng số người ưu tú vẫn không bằng người xuất gia. Người xuất gia ngoại trừ ba y một bát tất cả đều không có tiền tài, không truy cầu chổ ở yên ổn, không tham áo gấm khăn ngọc, một lòng chuyên chú đạo nghiệp, cho nên việc tu hành phần nhiều đều đạt kết quả. Đó là duyen do của “An bần chi sở dĩ lạc đạo”.
     Bàng Cư Sĩ tuy là tục nhân tại gia, nhưng tu hành không thua gì người xuất gia, và ông đã chiếm được một vị trí quan trọng trong Thiền Lâm. Bàng Cư Sĩ khi mới tham thiền, liền đã gom góp toàn bộ sở hữu tài vật trong nhà để chuẩn bị bỏ vào biển cả. Người đi đường thấy thế khuyên lơn là nên mang tài vật đó là dùng vào việc cứu nhân tế thế hoặc tạo tháp lập chùa thì tốt hơn. Cư Sĩ bảo rằng: “Vật này vì có hại đối với tôi nên tôi mới mang nó vứt bỏ, làm gì có cái đạo lý lấy cái vật hại mình đem tặng người khác!” Nói xong, không chút luyến tiếc ông đã đổ hết tiền tài xuống biển. Cư Sĩ tuy người tại gia, nhưng sự không tham luyến tài sản thế gian, thật đáng được gọi là một xuất gia hành giả”.
     Khi tôi đang cai thuốc lá đã từng mang một máy quẹt đắt tiền tặng cho người khác. Lúc ấy cơn nghiện thuốc của tôi rất lớn, mỗi ngày phải hút độ khoảng 50 chục điếu thuốc. Vì nghĩ đến sức khoẻ nên mới nhất quyết cai thuốc, đó là chuyện dĩ vãng 20 năm trước. Khi đó tuy quyết lòng cai thuốc, nhưng tự biết mình không phải là người ý chí kiên định, nên đối với kỷ luật bản thân tôi đã không đủ tự tin để dứt khoát quyết tâm cai thuốc do thế mới nhất định tặng cái quẹt máy cho người khác.
     Khi đọc giáo thị của Đạo Nguyên thiền sư, tôi đã không khỏi nghĩ đến dĩ vãng. Vì sức khoẻ mà mang vật không dùng tặng lại bạn bè, đây có phải là một việc làm thiều đạo đức? Đúng ra phải quăng bỏ nó đi mới phải...
     Đa phần con người thường sa vào lề lối suy tư mê man như thế.
     Hiển nhiên, cái quẹt máy sở dĩ có hại là vì dùng nó để đốt thuốc. Nếu không nhận thức được điểm này thì đối với suy tư trên mặt tiền tài lại càng không thể phân tích xác đáng. Tiền tài đối với kẻ tu hành Phật đạo có lúc đích thị là một chướng ngại, nhưng, cũng không thể phủ nhận sự hữu ích của nó. Ví như chúng ta có thể dùng nó để cứu tế kẻ nghèo khó, hoặc sử dụng nó để kiến tạo chùa chiền, chấn chỉnh đạo tràng v.v...Có khi cũng có thể dùng để quyên giúp cho các hội Bảo Trợ Nhi Đồng Quốc Tế ở Liên Hiệp Quốc v.v...chẳng hạn. Nếu đứng trên khía cạnh này đề suy gẫm, thì mang bạc tiền liệng vào lòng biển là một sự việc đáng tiếc.
     Nhưng, cái tình cảm “Bỏ đi thất tiếc” này đã không là cái khổ não chướng ngại của việc tu hành ư? Vì thế, nếu còn luyến tiếc khi mang tài vật vứt bỏ thì không thể hoàn toàn chấm dứt khổ não. Bàng Cư Sĩ sở dĩ đáng kính, ,vì ông không do dự tí nào khi đoạn tuyệt tài vật. Thế mới mong kiên trì ôm cái chủ nghĩa “xuất thế trên hết” (tức là “chủ trương không xuất gia thì không thể hiểu rõ thiền” của Đạo Nguyên thiền sư), đồng thời cũng rất đáng tôn sùng công phu “năng xả” của Bàng Cư Sĩ vì ông can cường hơn cả những người xuất gia.
     Ở chương thứ 10 “Tân Ước Thánh Kinh, Mã Khả Phúc Âm” ghi lại một mẫu chuyện thế này:
     Lúc Gia Tô đi đường, có một thanh niên đến sụp xuống lạy và thưa rằng: “Lạy Thầy nhân hậu, tôi phải làm gì để được sống mãi?” Gia Tô bảo anh ta: “Tại sao gọi ta là nhân hậu? Không có ai là nhân thiện trừ Thiên Chúa. Để được sống mãi mãi ngươi phải giữ các giáo răn. Những giáo răn như ngươi biết: Chớ giết người, không trộm cướp, không tà dâm, đừng hại người, không làm chứng dối, phải hiếu kính cha mẹ và thương nguời thân như bản thân”.
     Người thanh niên thưa với Gia Tô: “Tất cả những điều răn đó tôi đã tuân thủ từ thuở bé, thế thì tôi phải làm gì thêm?” Gia Tô người thanh niên, tỏ tình âu yếm và bảo: “Ngươi còn thiếu một việc: ngươi hãy về bán hết tài sản và chia phát cho người nghèo, làm thế ngươi sẽ được tài sản trên trời, rồi ngươi đến đây để theo ta”. Anh ta nghe Gia Tô nói xong, buồn rầu bỏ đi vì anh ta là người giàu có nhiều ruộng đất và lợi tức. Gia Tô buồn rầu nhìn các môn đồ rồi bảo rằng: “Các con hãy xem, người giàu muốn vào thiên đàng quả thật khó khăn! Này các con! Thầy bảo thật: Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước thiên đàng”.
     Lời nói của Gia Tô trọng điểm là không phải mang tiền tài thí xá cho người nghèo mà nhấn mạnh đến sự vướng mắc tiền tài chính là sự chướng ngại cho con đường thông đến thiên quốc, điểm này mà chủ trương của Đạo Nguyên thiền sư giống nhau.
     So với phú ông truy cầu con đường đi đến thiên quốc thì quyết tâm của Bàng Cư Sĩ đáng tôn kính hơn. Ông vì cầu đạo mà mang hết tài sản trút bỏ xuống biển, đích thật cần có quyết tâm và dũng khí. Không luận là Phật giáo hay Cơ Đốc giáo, đều cần những người có quyết tâm và dũng khí lớn như vậy để thực tu.
     Bàng Cư Sĩ(? – 808) là một trong số ít người với thân phận tại gia mà lư danh trong thiền sử. Càng đáng đề cập hơn, Bàng Cư Sĩ cả nhà gồm có bốn người đều xứng đáng gọi là “Gia tộc của thiền”, bởi vì cái chết của họ tương đối khác thường, có thể nói đó là lối chết của thiền giả chính tông.
     Những thiền gia tu hành cao thâm, phần đông đều có thể biết trước ngày chết của mình. Sự việc này thường thấy trong “Cao Tăng truyện”. Thậm chí không những biết trước ngày giờ ra đi mà nhiều thiền giả còn có thể tuỳ theo ý chí của mình mà quyết định công việc tử sanh. Bàng Cư Sĩ là một trong số những vị ấy. Giai thoại dưới đây được ghi trong lời tựa của “Bàng Cư Sĩ ngữ lục”:
     Một hôm, Bàng Cư Sĩ quyết định vãng sanh (đương nhiên khác với tự tử, tuy chúng ta không rõ nguyên nhân trong ấy).
     Bàng Cư Sĩ đem ý định của ông nói với cô con gái là Linh Chiếu và dặn dò:
     “Thế gian hư ảo không thật. con ra ngoài cửa giúp ta để canh cao độ của mặt trời, đến khi đúng ngọ thì hãy thông tri cho ta một tiếng”
     Bàng Cư Sĩ dự tính vừa đúng chánh ngọ thì sẽ vãng sanh.
     Đến chánh ngọ, cô con gái vào nhà báo:
     “Phụ thân đại nhân, đã chánh ngọ rồi, nhưng hôm nay là ngày nhật thực, không tinh cha hãy ra xem!”
     “Thật có việc như thế sao!”
     Thừa lúc Bàng Cư Sĩ bước ra ngoài nhà, Linh Chiếu cô nương đã toạ vãng sanh.
     “Động tác con nhỏ này thật lanh lợi”
     Bàng Cư Sĩ vừa mắng yêu vừa nhặt củi khô lo việc thiện hậu cho người con gái.
     Bảy hôm sau, thái thú sở tại đến phúng điếu. Vị thái thú này bình thời đã dành rất nhiều sự kính ngưỡng đối với Bàng Cư Sĩ. Bàng Cư Sĩ gặp thái thú liền bảo:
     “Phàm các hiện tượng đang hiện hữu điều là không tướng, nếu chấp không lmà có thì không thể được. Vì thế...” Lúc ấy trong nhà tràn đầy mùi thơm lạ và, Bàng Cư Sĩ đã vãng sanh.
     Thế là thái thú phải long trọng cử hành tang lễ cho cư sĩ, và thông báo tin này cho Bàng phu nhân. Nghe tin, Bàng phu nhân bảo rằng:
     “Thật là đáng ghét, không thông tri cho tôi một tiếng mà đi trước, làm sao chịu nổi!”
     Bàng phu nhân lập tức truyền tin này cho người con trai đang làm ruộng hay.
     “Ba con và Linh Chiếu đều đã chết rồi!” Bàng phu nhân vừa nói dứt lời, thì người con đang cầm cuốc đã buông lỏng và tằng hắng một tiếng rồi đứng đó vãng sanh.
     Bàng phu nhân một mặt lo hậu sự cho con một mặt mắng yêu: “Thằng con thật bất hiếu!” sau đó đến từng nhà cáo biệt những người lân cận và từ đó không biết bà đã đi đâu.

  tiếp      



      Giới Thiệu Tác Phẩm:     

The Four Sublime States



Phật Giáo và Tâm Lý Học Hiện Đại


Chùa Diệu Pháp - DIEU PHAP TEMPLE - TĐGHPGVNTN
ENGLISH  | Trang Chủ  | Tác Phẩm  | Tin Tức / Chương Trình  | Nghiên Cứu Phật Học  | Hình Ảnh  | Tư Liệu  | Kết Trang

Mọi tin tức, bài vở, hoặc ý kiến xây dựng xin liên lạc:
311 E. Mission Rd, San Gabriel, CA 91776 USA • Phone: (626) 614-0566 • Fax: (626) 286-8437 • e-mail: thichvienly@gmail.com

This site has been accessed   Hit Counter   times since August 2005.